Giáo trình Công nghệ Web và ứng dụng

Công nghệ Web và Ứng dụng
Biên tập bởi:
Khoa CNTT ĐHSP KT Hưng Yên
Công nghệ Web và Ứng dụng
Biên tập bởi:
Khoa CNTT ĐHSP KT Hưng Yên
Các tác giả:
Khoa CNTT ĐHSP KT Hưng Yên
Phiên bản trực tuyến:
http://voer.edu.vn/c/bac5238b
MỤC LỤC
1. Bài 1 : Giới thiệu về công nghệ Web
1.1. Giới thiệu về môn học
1.2. Lịch sử Phát triển công nghệ web
1.3. Khái quát về công nghệ web
1.4. Những thành phần cấu tạo nên một website
2. Bài 2 : Thiết kế Website với HTML
2.1. Giới thiệu về HTML
2.2. Thành phần của HTML
2.3. Các loại thẻ nâng cao trong HTML
3. Bài 3 : Cascading style sheets
3.1. Cơ bản về cascading style sheets
3.2. Các loại Style trong ứng dụng website
4. Bài 4 : Ngôn ngữ kịch bản Javascript
4.1. Giới thiệu về javascript
4.2. Đặc điểm của ngôn ngữ javascript
4.2.1. Nhúng mã-Cách khai báo biến
4.2.2. Các điều khiển
4.2.3. Đối tượng navigator- window- location-frame
4.2.4. Đối tượng Document- Anchors- Forms- History
4.2.5. Xây dựng các hàm và sự kiện trong javascript

4.2.6. Xây dựng đối tượng trong javascript4.3. Truy cập thành phần dữ liệu4.4. Giới thiệu về DHTML5. Bài 5 : Xây dựng trang Web động5.1. Cơ bản về trang web động5.2. Cấu trúc một trang web5.3. Ngôn ngữ cơ bản thường dùng5.4. Giới thiệu cơ bản về ngôn ngữ ASP.NET5.5. Cách thức thực thi một trang web động5.6. Các đối tượng điều khiển trong ASP.NET5.6.1. Điều khiển cơ bản (Standard control)5.6.2. Điều khiển hợp lệ dữ liệu – Validation5.6.3. Điều khiển làm việc với CSDL (Data Control)1/2695.6.4. Điều khiển HTML5.6.5. Các điều khiển khác5.7. Các đối tượng và biến trong ASP.NET5.7.1. Respone-Requesy-Server-Cookie5.7.2. Session-Sử dụng Profiles5.8. Kết nối cơ sở dữ liệu trong trang web sử dụng ASP.NET5.8.1. Tầm quan trọng của việc sử dụng cơ sở dữ liệu5.8.2. Kết nối CSDL sử dụng ADO.NET5.8.2.1. Kiến trúc của ADO.NET và Các đối tượng5.8.2.2. Đối tượng Dataset và DataTable-15.8.2.3. Đối tượng Dataset và DataTable-26. Bài 6 : Thảo luận các bước xây dựng Website6.1. Các bước xây dựng websiteTham gia đóng góp2/269Bài 1 : Giới thiệu về công nghệ WebGiới thiệu về môn họcKhái niệm về website được hình thành từ thập niên 90 khi mà các trình duyệt đi vào giaiđoạn hoàn thiện và phát triển mạnh mẽ như ngày nay. Không có lí do nào khiến chúngta còn hoài nghi về lợi ích mà công nghệ web mang lại cho chúng ta cũng như cho sựphát triển của thế giới giai đoạn hiện tại và trong tương lai.Liệu đã sắp đến lúc công nghệ web có thể hoàn toàn thay thế cho các ứng dụng desktophiện tại. Mới đây cộng đồng mã nguồn mở đã và đang hi vọng sẽ đưa ứng dụng web đếngần với ứng dụng desktop hơn. Giả sử mọi mong muốn của họ đều trở thành sự thực khimà ứng dụng web đã có đủ sức mạnh để thay thế cho ứng dụng Desktop khi đó côngviệc của chúng ta sẽ trở nên đơn giản hơn rất nhiều. Bạn thử tưởng tượng nhé thay vìmột công ty có hàng trăm máy tính và phải cài hàng trăm ứng dụng Desktop giống nhauthay vào đó chúng ta có thể cài duy nhất một ứng dụng web để mọi người cùng dùngkhông những tại công ty mà họ còn có khả năng làm việc tại nhà. Mọi trao đổi sẽ đượcdiễn ra trên môi trường web, những công việc đó ngày nay đã thực hiện được dựa trênnền tảng công nghệ web và các phần mềm kết nối trên môi trường internet xong điềunày là chưa phổ biến.Chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng vào một tương lai phát triển mạnh mẽ của côngnghệ web. Mới đây một số ý tưởng cho rằng tại sao chúng ta phải cài đặt hệ điều hànhtrong khi nếu chúng ta khởi động từ máy tính và một trình duyệt web tương đương vớimột hệ điều hành sẽ được chúng ta sử dụng để thay thế cho các hệ điều hành hiện nay.Mặc dù ý tưởng đó chưa được thành sự thực xong nó cho thấy khả năng ứng dụng rộngrãi của công nghệ web trong tương lai mà con người muốn hướng tới.Chính vì những lợi ích đó trong module này chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu chi tiết nhữngnguyên lý cơ bản để xây dựng các ứng dụng trên nền tảng công nghệ web. Qua đó chúngta có thể xây dựng các website căn bản cho riêng mình và phát triển nó để sau khi ratrường chúng ta có những kiến thức nhất định trong lĩnh vực xây dựng website cho cácdoanh nghiệp trong tương lai.Module này cung cấp các kiến thức căn bản về HTML (Ngôn ngữ được sử dụng phổbiến trên các trình duyệt web như một thành phần không thể thiếu), CSS (Cascadingstyle sheet công cụ xây dựng giao diện cho các website), Javascript (Công cụ hỗ trợtrong việc tạo hiệu ứng và các bài toán phía trình duyệt), ASP.NET (Ngôn ngữ xây dựngwebsite động tiên tiến vào bậc nhất hiện nay….) ngoài ra chúng ta còn được bắt tay xâydựng từng khâu trong việc xây dựng một website hoàn chỉnh.3/269Lịch sử Phát triển công nghệ webLịch sử ra đời của công nghệ web6/8/1991 là một ngày đáng nhớ bởi đó là thời điểm mã máy tính “non nớt” cho wwwđược đăng trên alt.hypertext để mọi người có thể tải và tìm hiểu nó. Cũng bắt đầu từhôm ấy công nghệ web được thế giới biết đến.Jeff Groff, người cùng tham gia viết mã với Berners-Lee, cho biết ý tưởng tạo dựng webthực ra được hình thành rất đơn giản: “Chúng tôi luôn nghĩ rằng người sử dụng khôngcần phải xoay sở với những vấn đề kỹ thuật phức tạp”. Web giống như một tấm khăntrải giường với nhiệm vụ cố che phủ sự rắc rối của những dữ liệu được lưu hành trênInternet.Paul Kunz, nhà khoa học đã thiết lập máy chủ web đầu tiên ở châu Âu vào tháng 12/1991, cho biết đầu thập niên 90, máy tính giống như những “ốc đảo” thông tin. Một lầnđăng nhập chỉ có thể truy cập tài nguyên của một hệ thống. Chuyển sang máy tính khácđồng nghĩa với việc họ phải đăng nhập thêm lần nữa và phải sử dụng những bộ lệnhkhác nhau để truy xuất dữ liệu.Web đã lôi kéo sự chú ý của Kunz khi ông chứng kiến Berners-Lee trình diễn khả nănghoạt động của web trên hệ thống IBM. Sau đó, Kunz đã thiết lập máy chủ web, cho phépcác chuyên gia vật lý rà soát hơn 200.000 dữ liệu dễ dàng hơn bao giờ hết.Tuy nhiên, dù các nhà vật lý đã bị web quyến rũ, đa số mọi người lại không nhận biếtđược khả năng tiềm ẩm của nó. Kunz cho rằng điều này là do nhiều tổ chức cũng đangthực hiện ý tưởng tương tự. Công nghệ nổi tiếng nhất khi đó là Gopher của Đại họcMinnesota (Mỹ), cũng với tham vọng hóa giải sự phức tạp của những máy tính kết nốiInternet. Gopher được ra mắt vào mùa xuân năm 1991 và lưu thông Gopher cao hơn hẳnso với lưu thông web trong vài năm tiếp theo.Sự phát triển của công nghệ web so với Gopher. Nguồn: MIT4/269Trong thời gian đó, Berners-Lee, Jeff Groff và đồng nghiệp cũng tích cực giới thiệuphát minh của họ tại các hội thảo, cuộc gặp gỡDự án www chỉ thực sự thăng hoa khi chuyên gia Marc Andreessen thuộc Đại họcIllinois (Mỹ) giới thiệu trình duyệt web máy tính đầu tiên vào tháng 4/1993. Trình duyệtMosaic đã quá thành công và một số tính năng vẫn được coi là quy ước trong công nghệweb ngày nay. Cũng vào năm 1993, Đại học Minnesota thu phí Gopher khiến người tabắt đầu phải tìm đến các giải pháp thay thế.Ngoài ra, theo Ed Vielmetti, nhà nghiên cứu thuộc Đại học Michigan, ngay từ nhữngnăm đầu, web đã chứng minh được tính hữu ích với người sử dụng thông thường. Mọingười có thể sử dụng các trang web để tự bộc lộ mình, điều mà những công nghệ kháckhông cho phép (hình thức mới hiện nay của nó chính là blog).Cuối năm 1994, lưu thông web rốt cuộc cũng vượt qua Gopher và từ đó chưa bao giờ bịtụt lại. Hiện nay, gần 100 triệu website đã xuất hiện và người ta gần như đồng nhất côngnghệ web với Net.Kunz cho biết ý tưởng hình thành www là để tạo điều kiện cho mọi người vừa đọc vừađóng góp nội dung. Những công cụ mới như site chia sẻ ảnh, mạng xã hội, blog, cáctrang wiki đang dần hoàn thành lời hứa ban đầu của nhóm chuyên gia phát triển web.Và như thế, theo Kunz, web bây giờ mới chỉ bắt đầu những bước đi đầu tiênCác giai đoạn phát triển của công nghệ webKh Ban đầu, các trang Web là tĩnh; người dùng gửi yêu cầu một tài nguyên nào đó, vàserver sẽ trả về tài nguyên đó. Các trang Web không có gì hơn là một văn bản đượcđịnh dạng và phân tán. Đối với các trình duyệt, thì các trang Web tĩnh không phải là cácvấn đề khó khăn, và trang Web lúc đầu chỉ để thông tin về các sự kiện, địa chỉ, hay lịchlàm việc qua Internet mà thôi, chưa có sự tương tác qua các trang Web. Năm 1990, TimBerners-Lee, tại CERN, đã sáng chế ra HTML (Hyper Text Markup Language), ngônngữ đánh dấu siêu văn bản. HTML rất đơn giản và dễ dùng, và nó trở thành một ngônngữ rất phổ biến và cơ bản.Tuy nhiên, không lâu sau đó, nhu cầu về các trang Web động, có sự tương tác ngày mộttăng, chính vì thế sự ra đời các công nghệ Web động là một điều tất yếu. Sau đây là mộtsố công nghệ Web động cơ bản:CGIGiải pháp đầu tiên để làm các trang Web động là Common Gateway Interface (CGI).CGI cho phép tạo các chương trình chạy khi người dùng gửi các yêu cầu. Giả sử khi cần5/269hiển thị các các mục để bán trên Web site – với một CGI script ta có thể truy nhập cơsở dữ liệu sản phẩm và hiển thị kết quả. Sử dụng các form HTML đơn giản và các CGIscript, có thể tạo các “cửa hàng” ảo cho phép bán sản phẩm cho khách hàng qua mộttrình duyệt. CGI script có thể được viết bằng một số ngôn ngữ từ Perl cho đến VisualBasic.Tuy nhiên, CGI không phải là cách an toàn cho các trang Web động. Với CGI,người khác có thể chạy chương trình trên hệ thống. Vì thế có thể chạy các chương trìnhkhông mong muốn gây tổn hại hệ thống. Nhưng dù vậy, cho đến hôm nay thì CGI vẫncòn được sử dụng.AppletTháng 5/1995, John Gage của hãng Sun và Andressen (nay thuộc NetscapeCommunications Corporation) đã công bố một ngôn ngữ lập trình mới có tên Java.Netscape Navigator đã hỗ trợ ngôn ngữ mới này, và một con đường mới cho các trangWeb động được mở ra, kỷ nguyên của applet bắt đầu.Applet cho phép các nhà phát triển viết các ứng dụng nhỏ nhúng vào trang Web. Khingười dùng sử dụng một trình duyệt hỗ trợ Java, họ có thể chạy các applet trong trìnhduyệt trên nền máy ảo Java Virtual Machine (JVM). Dù rằng applet làm được nhiềuđiều song nó cũng có một số nhược điểm: thường bị chặn bởi việc đọc và ghi các filehệ thống, không thể tải các thư viện, hoặc đôi khi không thể thực thi trên phía client. Bùlại những hạn chế trên, applet được chạy trên một mô hình bảo mật kiểu sandbox bảo vệngười dùng khỏi các đoạn mã nguy hiểm.Có những lúc applet được sử dụng rất nhiều, nhưng nó cũng có những vấn đề nảy sinh:đó là sự phụ thuộc vào máy ảo Java JVM, các applet chỉ thực thi khi có môi trường thíchhợp được cài đặt phía client, hơn nữa tốc độ của các applet là tương đối chậm vì thếapplet không phải là giải pháp tối ưu cho Web động.JavaScriptCùng thời gian này, Netscape đã tạo ra một ngôn ngữ kịch bản gọi là JavaScript.JavaScript được thiết kế để việc phát triển dễ dàng hơn cho các nhà thiết kế Web và cáclập trình viên không thành thạo Java. (Microsoft cũng có một ngôn ngữ kịch bản gọi làVBScript). JavaScript ngay lập tức trở thành một phương pháp hiệu quả để tạo ra cáctrang Web động.Việc người ta coi các trang như là một đối tượng đã làm nảy sinh một khái niệm mới gọilà Document Object Model (DOM). Lúc đầu thì JavaScript và DOM có một sự kết hợpchặt chẽ nhưng sau đó chúng được phân tách. DOM hoàn toàn là cách biểu diễn hướngđối tượng của trang Web và nó có thể được sửa đổi với các ngôn ngữ kịch bản bất kỳnhư JavaScript hay VBScript.6/269Tổ chức World Wide Web Consortium (W3C) đã chuẩn hóa DOM, trong khi EuropeanComputer Manufacturers Association (ECMA) phê duyệt JavaScript dưới dạng đặc tảECMAScript.JSP/Servlet, ASP và PHPCùng với Java, Sun đồng thời đưa ra một công nghệ mới gọi là servlet. Các đoạn mãJava sẽ không chạy phía client như với applet; chúng sẽ được chạy trên một ứng dụngphía server. Servlet cũng đồng thời phục vụ các CGI script. Servlet là một bước tiến lớn,nó đưa ra một thư viện hàm API trên Java và một thư viện hoàn chỉnh để thao tác trêngiao thức HTTP.JavaServer Page (JSP) là một công nghệ lập trình Web của Sun, cùng với nó là một côngnghệ khác của Microsoft – Active Server Pages (ASP), JSP là công nghệ đòi hỏi mộttrình chủ hiểu được Java.Microsoft đã nghiên cứu các nhược điểm của servlet và tạo ra ASP dễ dàng hơn để thiếtkế các trang web động. Microsoft thêm các bộ công cụ rất mạnh và sự tích hợp rất hoànhảo với các Web server. JSP và ASP có những nét tương đương vì chúng đều được thiếtkế để phân tách qua trình xử lí khỏi quá trình biểu diễn. Có sự khác biệt về kỹ thuật,song cả hai đều cho phép các nhà thiết kế Web tập trung vào cách bố trí (layout) trongkhi các nhà phát triển phần mềm thì tập trung vào các kỹ thuật lập trình logic. Tất nhiênMicrosoft và Sun không độc quyền ở các giải pháp phía server. Còn có các công nghệkhác, trong đó phải kể đến là PHP (Hypertext Preprocessor) cho tới Cold Fusion. Cáccông nghệ này cung cấp các bộ công cụ rất mạnh cho các nhà phát triển.FlashNăm 1996, FutureWave đã đưa ra sản phẩm FutureSplash Animator. Sau đóFutureWave thuộc sở hữu của Macromedia, và công ty này đưa ra sản phẩm Flash. Flashcho phép các nhà thiết kế tạo các ứng dụng hoạt họa và linh động. Flash không đòi hỏicác kỹ năng lập trình cao cấp và rất dễ học. Cũng giống như các nhiều giải pháp khácFlash yêu cầu phần mềm phía client. Chẳng hạn như gói Shockwave Player plug-in cóthể được tích hợp trong một số hệ điều hành hay trình duyệt.DHTMLKhi Microsoft và Netscape đưa ra các version 4 của các trình duyệt của họ, thì các nhàphát triển Web có một lựa chọn mới: Dynamic HTML (DHTML). DHTML không phảilà một chuẩn của W3C; nó giống một bộ công cụ thương mại hơn. Trong thực tế nó làmột tập hợp gồm HTML, Cascading Style Sheets (CSS), JavaScript, và DOM. Tập hợpcác công nghệ trên cho phép các nhà pháp triển sửa đổi nội dung và cấu trúc của mộttrang Web một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, DHTML yêu cầu sự hỗ trợ từ các trình7/269duyệt. Mặc dù cả Internet Explorer và Netscape hỗ trợ DHTML, nhưng các thể hiện củachúng là khác nhau, các nhà phát triển cần phải biết được loại trình duyệt nào mà phíaclient dùng. DHTML thật sự là một bước tiến mới, nhưng nó vẫn cần một sự qui chuẩnđể phát triển. Hiện nay DHTML vẫn đang trên con đường phát triển mạnh.XMLKể từ khi ra đời vào giữa năm 1990, eXtensible Markup Language (XML) của W3C dẫnxuất của SGML đã trở nên rất phổ biến. XML có mặt ở khắp nơi, Microsoft Office 12cũng sẽ hỗ trợ định dạng file XML.Ngày nay chúng ta có rất nhiều dạng dẫn xuất của XML cho các ứng dụng Web (tấtnhiên là có cả XHTML): XUL của Mozilla; XAMJ, một sản phẩm mã nguồn mở trênnền Java; MXML từ Macromedia; và XAML của Microsoft.8/269Khái quát về công nghệ webKhái niệm về websiteBạn có thể hiểu website tương tự như quảng cáo trên các trang vàng, nhưng có điểmkhác ở chỗ nó cho phép người truy cập có thể trực tiếp thực hiện nhiều việc trên websitenhư giao tiếp, trao đổi thông tin với người chủ website và với những người truy cậpkhác, tìm kiếm, mua bán vv chứ không phải chỉ xem như quảng cáo thông thường.Hàng triệu người trên khắp thế giới có thể truy cập website- nhìn thấy nó chứ không giớihạn trong phạm vi lãnh thổ nào cả. Đối với một doanh nghiệp, Website là một cửa hàngảo với hàng hoá và dịch vụ có thể được giới thiệu và rao bán trên thị trường toàn cầu.Cửa hàng đó mở cửa 24 giờ một ngày, 7 ngày một tuần, quanh năm, cho phép kháchhàng của bạn tìm kiếm thông tin, xem, mua sản phẩm và dịch vụ của bạn bất cứ lúc nàohọ muốn.Khi bạn xem thông tin trên một trang Web thì trang Web đó đến từ một Website, có thểlà một Website đến từ Mỹ, từ Việt Nam, hay bất cứ nơi nào khác trên thế giới. Websitesẽ tên và chính là địa chỉ mà bạn đã gọi nó ra tên đó người ta gọi là tên miền hay domainname. Thường các Website được sở hữu bởi một cá nhân hoặc tổ chức nào đó.Website là một văn phòng ảo của doanh nghiệp trên mạng Internet. Website bao gồmtoàn bộ thông tin, dữ liệu, hình ảnh về các sản phẩm, dịch vụ và hoạt động sản xuất kinhdoanh mà doanh nghiệp muốn truyền đạt tới người truy cập Internet. Với vai trò quantrọng như vậy, có thể coi Website chính là bộ mặt của Công ty, là nơi để đón tiếp vàgiao dịch với các khách hàng trên mạng. Website không chỉ đơn thuần là nơi cung cấpthông tin cho người xem, cho các khách hàng và đối tác kinh doanh của doanh nghiệp,nó còn phải phản ánh được những nét đặc trưng của doanh nghiệp, đảm bảo tính thẩmmỹ cao, tiện lợi, dễ sử dụng và đặc biệt phải có sức lôi cuốn người sử dụng để thuyếtphục họ trở thành khách hàng của doanh nghiệp.Các yêu cầu tối thiểu của một WebisteĐối với một doanh nghiệp trong đời thường, để thành lập và hoạt động, doanh nghiệpđó phải đáp ứng được tối thiểu 3 yếu tố căn bản sau:• Tên doanh nghiệp• Trụ sở hoạt động của doanh nghiệp• Các yếu tố vật chất kỹ thuật,máy móc và con ngườiNếu ta tạm coi Website như 1 doanh nghiệp trong đời thường, thì để thiết lập và đưavào hoạt động 1 Website cũng phải đáp ứng được tối thiểu 3 yếu tố cơ bản như doanhnghiệp là:9/269• Tên Website (hay còn gọi là Tên miền ảo hoặc Domain name) tương ứng vớiTên doanh nghiệp trong đời thường.• Web Hosting (hay còn gọi là nơi lưu giữ trên máy chủ Internet) tương ứng vớiTrụ sở doanh nghiệp trong đời thường.• Các trang Web tương ứng với yếu tố vật chất kỹ thuật, máy móc của doanhnghiệp trong đời thường và con người để quản lý và vận hành Website đó.10/269Những thành phần cấu tạo nên một websiteNgôn ngữ siêu văn bảnHTML (HyperText Markup Language) là ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản được thiết kếra để tạo nên các trang web. Tập tin (File) HTML là một văn bản có chứa các thẻ đánhdấu (markup tags), các thẻ đánh dấu này giúp các trình duyệt Web hiểu được cách trìnhbày và hiển thị trang Web. File HTML có phần mở rộng (Extension) là htm hay html vàcó thể được tạo ra bằng bất cứ chương trình xử lý văn bản đơn giản nào.Trong File HTML các phần tử (Element) được đánh dấu bằng các thẻ HTML. Các thẻnày được bao bởi dấu < và dấu >. Thông thường các thẻ HTML được dùng theo một cặp (thẻ bắt đầu) và (thẻ kết thúc), văn bản nằm giữa cặp thẻ này lànội dung của phần tử. Các thẻ HTML không phân biệt chữ hoa và chữ thường, có nghĩalà các kiểu chữ đều được xem như nhau.Ngôn ngữ kịch bảnNgôn ngữ kịch bản (script): Là loại ngôn ngữ dùng để nâng cao hiệu quả và tính năngcủa trang web.Có hai loại:• Chạy trên máy server gọi là server script• Chạy trên máy client (máy duyệt web) còn gọi là client scriptCác thành phần stypesheetSử dụng style sheet giúp cho người sọan thảo trang web dễ dàng hơn trong việc thiếtkế và hiệu chỉnh các trang web đồng thời đảm bảo tính nhất quán trong trình bày củawebsite.Một style là một mẫu định dạng (template) của các HTML tag. Khái niệm style sheettrong trang web rất tương tự với các khái niệm templates trong MSWORD. bạn có thểthay đổi sự trình bày của một văn bản Word thông qua việc thay đổi các style trong vănbản này. Một cách tương tự, bạn có thể thay đổi sự trình bày của trang web bằng cáchhay đổi các style sheet được gán cho các tag HTML.Ngôn ngữ xử lý dữ liệu phía server11/269PerlPerl (Practical Extraction and Report Language) là ngôn ngữ kịch bản mã nguồn mởcó cú pháp tương tự như C. Perl chạy ở chế độ nền phía server tạo nội dung web theocách thức ẩn đối với người xem. Năm 1987, lrry Wall xây dựng và phát triển Perl nhưlà phiên bản cải tiến của awk với mục đích thực hiện tự động một số tác vụ quản trị hệthống Unix (awk là một chương trình xử lý văn bản của Unix). Sau đó Perl được pháttriền dần và phổ biến với nhiều dạng ửng dụng. Perl có tính đối tượng, nhờ vậy việc bổsung thư viện mới rất dễ dàng. Nó thích hợp cho cả ứng dụng web phức tạp lẫn các tácvụ xử lý dữ liệu đơn giản.Đã có thời tất cả những việc tạo trang web động có lập trình đều dùng Perl, trước khi cónhững công nghệ khác như ASP, JSP, PHP và hiện Perl vẫn là một trong những ngônngữ được dùng phổ biến nhất để viết các ứng dụng web.Hầu hết các máy chủ web hiện nay đều hỗ trợ Perl. Apache có hỗ trợ miễn phí tích hợptrình dịch Perl mod-perl. Điều này không chỉ giúp tăng tốc mã lệnh Perl mà còn cải thiệnhiệu suất nhờ mod-perl lưu lại các mã lệnh biên dịch trong bộ nhớ. Mod_perl kết hợpvới một số công nghệ khác cho phép xây dựng các website cao cấp, nổi bật nhất là haicông nghệ HTML::Embperl và HTML::Mason.Các giải pháp thương mại của Activestate và Binary Evolution cũng giúp tăng tốcPerl theo cách thức tương tự như mod-perl. PerlEx của ActiveState tăng tốc chươngtrình CGI/PERL cho IIS trong khi sản phẩm của Binary Evolution dùng cho Netscape,Apache, và IIS trên cả nền Windows và Unix.Có rất nhiều tài liệu trên Net về Perl cũng như nhiều thư viện chương trình tiện ích miễnphí. Bạn có thể tìm thấy những mô đun viết sẵn ở website CPAN (Comprehensive PerlArchive Network – www.cpan.org). Ngôn ngữ Perl hiện đang phát triển đi xa hơn thiếtkế ban đầu của nó.ASPCông nghệ Microsoft Active Server pages (ASP) đi cùng với Microsoft IntemetInformation Server (IIS). ASP hỗ trợ nhiều ngôn ngữ kịch bản như PerlScript, JScriptvà VBScript. PerlScript dựa trên ngôn ngữ Perl, JScript dựa trên ngôn ngữ JavaScript,nhưng ngôn ngữ mặc định của ASP là VBScript, một ngôn ngữ kịch bản dễ học, là tậpcon của ngôn ngữ Visual Basic – một trong những ngôn ngữ lập trình phổ biến nhất hiệnnay. Công nghệ ASP cho phép trộn nội dung HTML tĩnh với mã lệnh kịch bản thực thiở môi trường server để tạo ra kết quả động.Ưu điểm nổi bật nhất của ASP là khả năng dùng thành phần COM và ADO (ActivexData Object), nhưng cũng chính khả năng này làm cho chương trình ASP phức tạp12/269và khó viết hơn. Khi cần phát triển, bạn có thể tạo thành phần COM riêng. Microsoftkhuyến cáo xây dựng thành phần COM để xử lý mức luận lý. Thành phần COM có thểphát triển bằng Visual Basic, Visual C++ hay Java.Tuy nhiên, với môi trường máy chủ dùng chung, thường các công ty cung cấp dịch vụmáy chủ giới hạn chỉ cho phép bạn dùng VBScript.Trở ngại lớn nhất của ASP là chỉ dùng trên IIS chạy trên máy chủ Win32. Có một số sảnphẩm của các hãng thứ ba cho phép ASP chạy trên môi trường và máy chủ web khácnhư các sản phẩm thương mại InstantASP của Halcyon, Chili!Soft của Chili!Soft vàsản phẩm miễn phí OpenASP của ActiveScripting.org. Có hai phiên bản Perl cho ASP:phiên bản Unix (Apache::ASP) dùng với Apache và phiên bản Windows PerlScript củahãng ActiveState.Việc cài đặt môi trường máy chủ hỗ trợ ASP rất đơn giản, IIS mặc định hỗ trợ sẵn ASP.Personal Web Server cung cấp môi trường chạy ASP cho Windows 95, 98. Công cụVisual Interdev rất mạnh, giúp tạo trang ASP đơn giản và nhanh chóng. Có rất nhiềuwebsite, sách và mã nguồn miễn phí cho ASP. Đây là một lợi thế.ASP.NET (ASP+) là bước phát triển mới của công nghệ ASP dùng với nền tảngNET. Ngôn ngữ chính dùng để phát triển trang ASP.NET (.aspx) là VB.NET, C#.Ngoài ra ASP.NET còn hỗ trợ nhiều ngôn ngữ khác như JScript.NET, Smalltalk.NET,Cobol.NET, Perl.NETJSPJava Server Pages (JSP) là sự mở rộng của công nghệ JavaServlet, một thành phần trongchuẩn J2EE của Sun. Với JavaServlet, bạn phải xử lý đầu vào HTTP và đầu ra HTMLtrong lớp Java, bạn cần có kiến thức lập trình để xây dựng các ứng dụng phức tạp. VớiJSP bạn có thể tách riêng lớp hiển thị HTML ra khỏi lớp Java xử lý nghiệp vụ phức tạp.Điều này có nghĩa là người phát triển có kinh nghiệm ngôn ngữ kịch bản, hay thậm chíngười thiết kế web có thể viết mã lệnh hiển thị đơn giản, trong khi người phát triển cókiến thức về Java tập trung viết JavaServlet hay JavaBean đề giải quyết nghiệp vụ phứctạp.Tương tự ASP, JSP cũng thực hiện phép trộn nội dung HTML tĩnh với mã lệnh kịch bảnthực thi ở môi trường server để tạo ra kết quả động. JSP dùng ngôn ngữ kịch bản mặcđịnh là Java; tuy nhiên theo đặc tả kỹ thuật thì cũng có thể dùng các ngôn ngữ khác.JSP có ưu điểm so với ASP là sau lần thực thi đầu tiên thì mã biên dịch (Servlet) củatrang JSP được lưu lại trong bộ nhớ của máy chủ web và sẵn sàng đáp ứng cho các yêucầu truy cập sau đó (trang ASP/VBSCRIPT hay Asp/jscript phải được dịch lại với mỗiyêu cầu). Lợi thế của JSP là sử dụng được toàn bộ sức mạnh của ngôn ngữ Java với các13/269tính năng khả chuyển, chạy được trên nhiều nền tảng hệ thống và máy chủ web, mã lệnhhướng đối tượng, bảo mật an toànHiện chưa có nhiều dịch vụ đặt web hỗ trợ JSP. Tuy Java miễn phí nhưng các côngcụphát triển Java và phần mềm máy chủ Java khá đắt. Các công cụ phát triển trang JSPtốt là Borland Jbuilder, IBM WebSphere Studio. Một số phần mềm máy chủ Java hỗ trợJSP miễn phí như Tomcat, JONAS.Server-side JavaScript (SSJS) là sự mở rộng của JavaScript, ngôn ngữ kịch bản phổ biếnchạy ở trình duyệt máy khách có cú pháp giống như C, mặc dù có tên gọi tương tự nhưngnó không phải là Java. SSJS có các tính năng tích hợp hỗ trợ cơ sở dữ liệu và email,quản lý phiên làm việc và khả năng liên tác với các lớp Java dùng công nghệ Livewirecủa Netscape. SSJS chỉ chạy trên máy chủ web Netscape.PHPNăm 1995, Rasmus Lerdorf tạo ra PHP nhằm giải quyết việc viết lặp đi lặp lại cùngđoạn mã khi tạo các trang home (vì vậy PHP được viết tắt từ Personal Home Page). Banđầu, tác giả chỉ có ý định tạo bộ phân giải đơn giản để thay thế các thẻ lệnh trong fileHTML bằng các đoạn mã lệnh viết bằng C. Dự án này đã được phát triển thành ngônngữ kịch bản mã nguồn mở PHP – Hypertext Preprocessor được cài đặt cho khoảng 20%máy chủ web trên Internet, theo số liệu khảo sát của công ty Netcraft.PHP tương tự JSP và ASP với tập thẻ lệnh dùng cho trang HTML. Điểm đặc biệt là PHPđược phát triển hoàn toàn cho nền tảng web, chính vì vậy mà các ứng dụng viết bằngPHP rất ngắn gọn so với VBScript hay JSP. Đây cũng chính là điểm mạnh của PHP sovới Perl.Cú pháp PHP mượn từ nhiều ngôn ngữ khác như C, Java, Perl PHP có thể giao tiếp vớinhiều hệ CSDL như Sybase, Oracle, Informix, Postgres và cả Microsoft SQL. Khôngchỉ có khả năng thao tác CSDL, PHP còn có nhiều khả năng khác như IMAP, SNMP,LDAP, XML PHP chạy trên hầu hết các nền tảng hệ thống. Trình máy chủ phân giảimã lệnh PHP có thể tải về miễn phí từ trang web chính thức của PHP. Có lẽ yếu tố hấpdẫn nhất của PHP là nó hoàn toàn miễn phí. Với máy tính cấu hình vừa phải chạy Linux,cài đặt Apache, PHP và MYSQL, bạn sẽ có máy chủ có thể phục vụ được nhiều ứngdụng web tương đối. Toàn bộ chi phí hầu như chỉ là thời gian bạn bỏ ra để cài đặt cácphần mềm. PHP được xem là một thay thế cho Perl. PHP không thể làm được nhiều nhưPerl, thế nhưng chính sự hạn chế này làm cho PHP dễ học và dễ dùng. Nhiều nhà pháttriển dùng kết hợp cả hai: Perl dùng cho những tác vụ chạy bên dưới còn PHP dùng choviệc xử lý bề mặt. Komodo của Active State Corp là công cụ miễn phí dùng để phát triểntrang PHP.14/269ASP.NETCó thể nói là thế hệ sau của ASP nhưng hỗ trợ tối đa mong muốn của lập trình viên vàkhắc phục được những điểm còn hạn chết trong ASP, chính vì vậy ASP.NET đang dầnkhẳng định là một trong những lựa chọn số một của người xây dựng website.Mặc dù ra đời muộn cùng với sự ra đời của Net framework nhưng ASP.NET đã chứngtỏ mình là công cụ mạnh mẽ và hỗ trợ lập trình hết sức linh hoạt và là sự lựa chọnhàng đầu của các lập trình viên. Ngoài khả năng thao tác dễ dàng trong thiết kế giaodiện ASP.NET còn là công nghệ hỗ trợ nhiều ngôn ngữ lập trình đặc biệt trong số đólà VB.NET, C#,…. Là những ngôn ngữ đang rất được ưa chuộng bởi các lập trình viênhiện nay.Việc kết nối CSDL dễ dàng cũng là một trong những ưu điểm nổi bật của ASP.NET vớisự hỗ trợ của ADO.NET và mới đây nữa là sự ra đời của LinQ với khả năng kết nốiCSDL dễ dàng ASP.NET đang dần hoàn thiện để trở thành công nghệ thống trị trongthế giới website.15/269Bài 2 : Thiết kế Website với HTMLGiới thiệu về HTMLNgày nay Internet đã phát triển đến mức nó trở thành một phần không thể thiếu đượccủa cuộc sống hiện đại. Các nguồn thông tin được cung cấp một cách nhanh chóng vàchính xác trên những Website. Trên Internet, quả thực có rất nhiều Website chú trọngđến ngôn ngữ HTML, cũng có rất nhiều Web site dành cho mục đích thương mại, nghệthuật. Thế nhưng lại có ít nguồn thông tin đề cập đến việc thiết kế một trang Web, mộtWebsite, thiết kế đồ hoạ, giao diện người sử dụng hay những kiến thức về cách thức tổchức thông tin. Môn học chuyên đề Web sẽ cung cấp một cái nhìn tổng thể trong việcxây dựng và phát triển Website đồng thời cung cấp một số giải pháp được lựa chọn trongthời đại hiện nay khi nói đến Website.Khái niệmHTML (HyperText Markup Language) – Ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản được sửdụng để tạo các tài liệu có thể truy cập trên mạng. Tài liệu HTML được tạo nhờ dùngcác thẻ và các phần tử của HTML. File được lưu trên máy chủ dịch vụ web với phần mởrộng “.htm” hoặc “.html”.Ngày nay với sự phát triển của công nghệ web việc ứng dụng các công cụ HTML càngtrở nên quan trọng trong sự phát triển của ngành công nghệ web hiện đại.Ví dụ về tạo file HTMLNếu bạn sử dụng Window hãy mở Notepad, nếu bạn sử dụng Mac mở ứng dụngSimple Text. Với OSX bạn mở TextEdit và thay đổi lựa chọn sau: Select (trong cửasổ preference) > Plain Text thay vì Rich Text và chọn “Ignore rich text commands inHTML files”. Việc này rất quan trọng bởi vì nếu bạn không làm vậy thì code HTML cóthể không đúng.Sau đó bạn gõ vào những dòng sau:

Trường đại học sư phạm kỹ thuật Hưng Yênwww.utehy.vn and www.utehy.edu.vn. UTHYE and web designresources 16/269Lưu file lại với tên là “mypage.htm” vào desktop cũng được. Sau đó bạn đóng trình soạnthảo Notepad hoặc Simple Text lại và tìm đến file mypage.htm ở desktop rồi nhấp đúpvào trình duyệt sẽ hiển thị nội dung của trang.Giải thích ví dụ:Thẻ đầu tiên trong tài liệu HTML là. Thẻ này nói cho trình duyệt biết đây làđiểm khởi đầu của một tài liệu HTML. Thẻ cuối cùng của tài liệu là, thẻ nàynói cho trình duyệt biết đây là điểm kết thúc của văn bản.Đoạn chữ nằm giữa hai thẻ và là thông tin của header. Thông tin headersẽ không được hiển thị trên cửa sổ trình duyệt.Đoạn chữ nằm giữa cặp thẻ là tiêu đề của văn bản. Dòng tiêu đề này sẽ xuất hiệnở thanh trạng thái của trình duyệt web.Đoạn chữ nằm giữa hai thẻ là những gì nó sẽ thể hiện trên trình duyệt của bạn.Đoạn chữ nằm giữa hai thẻ sẽ xuất hiện dưới dạng đậm.Sử dụng file với HTM hay HTMLMột số bạn thường gặp rắc rối khi phân biệt cũng như giải thích tại sao trang HTM vàHTML lại cho ra cùng một kết quả vậy nguyên nhân của việc này là gì?Khi bạn lưu một văn bản dưới dạng HTML, bạn có thể sử dụng cả hai dạng là .htm và.html. Chúng ta đã sử dụng dạng .htm trong ví dụ trên. Lý do này bắt nguồn từ nguyênnhân ngày trước là có những phần mềm chỉ cho phép phần mở rộng có tối đa là 3 chữcái. Với những phần mềm mới hiện nay chúng ta nghĩ sẽ tốt hơn nếu bạn lưu lại vớiphần mở rộng là .htmlMột chú ý khi sử dụng trình soạn thảo HTML:Bạn có thể dễ dàng chỉnh sửa một tài liệu HTML bằng cách sử dụng WYSIWYG (whatyou see is what you get = thấy gì có đó) như là Frontpage, Claris Homepage, Dreamweaver hoặc Adobe PageMill thay vì bạn phải tự viết những cặp thẻ từ đầu đến cuối.Nhưng nếu bạn muốn trở thành một web master đầy kỹ thuật, tôi khuyên bạn nên sửdụng những trình soạn thảo text đơn giản để học và làm quen với cấu trúc câu lệnh củaHTML.17/269Thành phần của HTMLCác dạng thẻ HTMLThẻ HTML dùng để viết lên những thành tố HTMLThẻ HTML được bao quanh bởi hai dấu lớn hơn < và > nhỏ hơn.Những thẻ HTML thường có một cặp giống như Thẻ thứ nhất là thẻ mở đầu và thẻ thứ hai là thẻ kết thúc.Dòng chữ ở giữa hai thẻ bắt đầu và kết thúc là nội dung.Những thẻ HTML không phân biệt in hoa và viết thường, ví dụ dạng đềunhư nhau.Thành phần HTMLNhớ lại ví dụ ở trên của chúng ta về HTMLTrường đại học sư phạm kỹ thuật Hưng Yênwww.utehy.vn and www.utehy.edu.vn. UTHYE and web design resources UTEHY and web design resources Thành phần của HTML bắt đầu với thẻ: Nội dung của nó là: UTHYE and web design resources Thành phần của HTML kếtthúc với thẻ: Mục đích của thẻ là để xác định một thành phần của HTML phảiđược thể hiện dưới dạng in đậmĐây cũng là một thành phần của HTML:www.utehy.vn and www.utehy.edu.vn. UTHYE and web design resources 18/269Phần này bắt đầu bằng thẻ bắt đầu và kết thúc bằng thẻ kết thúc. Mụcđích của thẻ là xác định thành phần của HTML bao gồm nội dung của tài liệu.Các thuộc tính của thẻ HTMLNhững thẻ HTML đều có những thuộc tính riêng. Những thuộc tính này cung cấp thôngtin về thành phần HTML của trang web. Tag này xác định thành phần thân của trangHTML:. Với một thuộc tính thêm vào là bgcolor, bạn có thể báo cho trình duyệtbiết rằng màu nền của trang này là màu đỏ, giống như sau: hoặc (#E6E6E6 là giá trị hex của màu) Thẻ này sẽ xác địnhdạng bảng HTML: với một thuộc tính đường viền (border), bạn có thể báo chotrình duyệt biết rằng bảng sẽ không có đường viền: Thuộc tính luônluôn đi kèm một cặp như name/value: name=”value” (tên=”giá trị”) thuộc tính luôn luônđược thêm vào thẻ mở đầu của thành phần HTML.Dấu ngoặc kép, “red” hoặc ‘red’Giá trị thuộc tính nên được đặt trong dấu trích dẫn ” và “. Kiểu ngoặc kép như vậy thìphổ biến hơn, tuy nhiên kiểu đơn như ‘ và ‘ cũng có thể được dùng. Ví dụ trong một vàitrường hợp đặc biệt hiếm, ví dụ như giá trị thuộc tính đã mang dấu ngoặc kép rồi, thìviệc sử dụng ngoặc đơn là cần thiết. Ví dụ: name=’ban”tay”den’Các loại thẻ cơ bản HTMLNhững thẻ quan trọng nhất trong HTML là những thẻ xác định Heading, đoạn văn vàxuống dòng.HTML headThe title is not displayed

This text is displayed

19/269Thông tin tiêu đề ở trong phần head thì không được hiển thị trong cửa sổ trình duyệt.Đường link tài liệu:

This linkĐoạn này sẽ cho ra một cửa sổ mới bởi vì nó được gắn thuộc tính target là “_blank”.

This link Chỉ triển khai chuyển hành lang cửa số hiện hành đến trang cần đến .Cách sử dụng thẻ để làm cho tất cả các đường link trên một trang mở ở một cửasổ mới.Thành phần của head20/269Thành phần của head bao gồm những thông tin chung, hay còn được gọi là meta-information về tài liệu. Meta có nghĩa là “thông tin về”. Bạn có thể nói rằng meta-datacó nghĩa rằng thông tin về data, hoặc meta-infomation có nghĩa rằng thông thin về thôngtin.Thông tin trong thành phần head.Theo như tiêu chuẩn của HTML, chỉ một vài thẻ được chính thức đặt trong phần headđó là: base>,, ,,

5/5 - (1 vote)
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments