Ca trù – Wikipedia tiếng Việt

Một buổi hội diễn ca trù : bà Phó Thị Kim Đức – ca nương hát chính gõ phách, kép bên tay phải chơi đàn đáy, quan viên bên trái đánh trống chầu

Ca trù (chữ Nôm: 歌籌), còn gọi nôm na là hát cô đầu / hát nhà trò là loại hình diễn xướng bằng âm giai nhạc thính phòng rất thịnh hành tại khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam[1]. Ca trù thịnh hành từ thế kỷ 15, từng là loại ca trong cung đình và được giới quý tộc và trí thức yêu thích. Ca trù là một sự phối hợp nhuần nhuyễn và đỉnh cao giữa thi ca và âm nhạc.

Cho đến những năm 1980 thể loại này hay được gọi cái tên là hát ả đào (nghĩa đen là “hát xẩm cửa đình”), tuy nhiên sang thập niên 1990 thì hay gọi tên là hát ca trù. Từ “ca trù” được cho là lấy từ chữ Nôm: 歌籌 nghĩa là lối hát bỏ thẻ tre, người nghe hát thấy chỗ nào hay thì ném thẻ cho đào hát. Sau đó cứ đếm thẻ mà trả thành tiền. Các ca nương được gọi là ả đào tuy nhiên chữ “ả” liên kết với mại dâm, nên gọi chêch ra là cô đào, và dạng biến thể là cô đầu. Ca trù từng được tầng lớp trí thức thời phong kiến yêu thích, được biểu diễn tại các đình làng và cả ở cung đình, sau đó phát triển ở các giáo phường, sử dụng phụ nữ và dần bị biến tướng. Thời thực dân, ca trù phát triển ở các đô thị trong các ca quán nơi cung cấp rượu và thuốc phiện. Sau năm 1945 khi Việt Minh lên nắm quyền, nó bị phê phán gắn với các hoạt động mại dâm chế độ cũ (nhà văn Nguyễn Tuân khi xuất bản tác phẩm Chùa Đàn với dụng ý không thờ Chúa, thờ Phật mà chỉ thờ cây đàn đã ca ngợi loại hình nghệ thuật này, nhưng ông đã phải chèn thêm phần đầu và phần cuối sau khi Việt Minh nắm quyền). Sau 1954 ca trù chính thức bị cấm, nhưng được khôi phục sau khi công cuộc Đổi Mới được phát động và ngày nay hay được xem là bộ môn nghệ thuật bác học của nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam[2][3].

Ngày 1 tháng 10 năm 2009, ca trù được ghi danh là di sản phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp[4][5][6]. Đây là Danh hiệu UNESCO ở Việt Nam có vùng ảnh hưởng lớn, với phạm vi tới 16 tỉnh, thành phố ở nửa phía Bắc Việt Nam[7]. Hồ sơ đề cử Ca trù là di sản văn hóa thế giới với không gian văn hóa Ca trù trải dài khắp 16 tỉnh phía Bắc gồm: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình. Ca trù là kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại đứng thứ hai sau ả đào pansori của Hàn Quốc.

Ngày 23 tháng 2 năm 2020, nhằm mục đích ngày giỗ tổ nghiệp ca trù, Google lần tiên phong tôn vinh mô hình nghệ thuật và thẩm mỹ truyền thống cuội nguồn này bằng hình tượng đặc biệt quan trọng sửa chữa thay thế trong thời điểm tạm thời trên trang chủ .
Không ai rõ ca trù có từ khi nào, nhưng có một giai thoại kể rằng nó được khai sinh bởi Đinh Dự – con trai công thần Lam Sơn và công chúa Đường Hoa – người nhà trời. Nên ca trù có nguồn gốc nửa nhân nửa thần, rất linh mà cao quý .Ca trù là dạng thẩm mỹ và nghệ thuật màn biểu diễn dùng nhiều thể văn chương như : phú, truyện, ngâm, nhưng thể văn chương thông dụng nhất là hát nói và hát kể .Hát nói Open sớm nhưng phải đợi đến đầu thế kỷ 19 mới có những tác phẩm lưu truyền đến nay như những tác phẩm của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát … Nguồn gốc của thể Hát nói trong văn chương Nước Ta được lý giải bằng những nguyên do và những vấn đề sau đây [ 8 ] :

Thành phần trình diễn[sửa|sửa mã nguồn]

Một chầu hát cần có ba thành phần chính :

  1. Một nữ ca sĩ (gọi là “đào” hay “ca nương”) sử dụng bộ phách gõ lấy nhịp,
  2. Một nhạc công nam giới (gọi là “kép”) chơi đàn đáy phụ họa theo tiếng hát. Nhạc công đàn đáy có lúc hát thể cách hát sử và hát giai, vừa đàn vừa hát
  3. Người thưởng ngoạn (gọi là “quan viên”, thường là tác giả bài hát) đánh trống chầu chấm câu và biểu lộ chỗ đắc ý bằng tiếng trống.

Vì là thẩm mỹ và nghệ thuật âm nhạc thính phòng, khoảng trống trình diễn ca trù có khoanh vùng phạm vi tương đối nhỏ. Đào hát ngồi trên chiếu ở giữa. Kép và quan viên ngồi chếch sang hai bên. Khi bài hát được sáng tác và trình diễn ngay tại chỗ thì gọi là ” tức tịch, ” nghĩa là ” ngay ở chiếu. ”
Ca trù vừa là loại thanh nhạc ( vocal music ), vừa là loại khí nhạc ( instrumental music ). Có một ngôn từ âm nhạc tế nhị, phức tạp .

  • Thanh nhạc: Ca nương phải có giọng thanh – cao – vang, khi hát phải biết ém hơi, nhả chữ và hát tròn vành rõ chữ, biết nảy hạt (đổ hột), đổ con kiến. Ca nương vừa hát, vừa gõ phách. Phải biết rành 5 khổ phách cơ bản, đánh lưu không, tiếng phách phải chắc và giòn, lời ca và tiếng phách phải ăn khớp với nhau.
  • Khí nhạc: Kép đàn dùng đàn đáy phụ họa. Bản đàn không nhất thiết phải đi theo bài hát, vì phải theo khổ đàn, nhưng khổ đàn – khổ phách – tiếng ca hợp nhau, hài hòa nhuần nhuyễn. Có những cách đàn ca chân phương– theo lề lối hay hàng hoa– sáng tạo và bay bướm.
  • Quan viên là người cầm chầu, tiếng trống chầu vừa chấm câu khi tham gia vào cuộc diễn tấu, nhưng có tính chất phê phán, khen chê đúng chỗ, để khích lệ ca nương – kép đàn, giúp cho thính giả biết được đoạn nào hay – thật hay và như thế được giáo dục âm nhạc trong cách nghe.

Một số tác phẩm nổi tiếng[sửa|sửa mã nguồn]

Bài bản ca trù có nhiều loại. Phổ thông nhất là hát nói, một thể văn vần có tính cách văn học cao. Những bài hát nói nổi tiếng phải kể đến:

Ngoài ra còn có những làn điệu cổ xưa khác như ” Tỳ bà hành ” ( bản diễn Nôm của Phan Huy Vịnh theo cổ bản của Bạch Cư Dị ). Những điệu huê tình, gửi thư, bắc phản, hát giai … cũng thuộc thể ca trù .

Ca trù thời nay[sửa|sửa mã nguồn]

Sau Cách mạng Tháng 8, ca trù bị xem là ” game show hư hỏng, trụy lạc ” và sau 1954 bị không cho không chính thức vì bị xem là tương quan đến tệ nạn xã hội. Chính quyền cũng gán cho bộ môn ca trù là ” phong kiến, trưởng giả ” do dư luận xã hội nhìn nhận coi là thứ ăn chơi, trác táng trụy lạc của những tầng lớp bóc lột. [ 9 ] Tuy nhiên, Hồ Chí Minh đã tham gia một buổi màn biểu diễn ca trù tại Văn Miếu Văn Miếu trong năm 1962 nhân ngày Tết Nguyên đán. Năm 1976, học giả Trần Văn Khê đã thu âm những buổi trình diễn của hai ca nương, người đã hát cho Hồ Chí Minh nghe, và xuất bản hai năm sau đó. Quan chức tiên phong tiếp thị ca trù là Nguyễn Xuân Khoát, người đứng đầu hiệp hội Xuân Thu nhã tập năm 1940 – 1942 : ông đã thuyết trình về ca trù tại những hội nghị, trong những cơ sở giáo dục và trên đài phát thanh ( tháng Tư năm 1976 ) .Những năm 1980, môn ca trù mới được được cho phép trình diễn cho công chúng nhưng trong khuôn khổ đề tài chính trị chứ không giữ được thể văn truyền thống cuội nguồn. Lần ra đời đó, NSND Quách Thị Hồ hát bài ” Những mùa xuân ” trên đài phát thanh. Điệu nhạc thì cổ nhưng lời ca mang nội dung ca tụng Đảng Cộng sản Việt Nam. Dù đó là đề tài chỉ huy, đó là lần đầu sau 30 năm bặt tiếng, khán thính giả miền Bắc Nước Ta mới nghe được làn điệu ca trù. [ 9 ]. Năm 2009 thì cơ quan chính phủ đề cử ca trù là bộ môn Di sản quốc tế UNESCO [ 10 ]. Ca trù từ đó mới được công nhận để điều tra và nghiên cứu bảo tồn .

Nghệ thuật ca trù được giới thiệu trong nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật. Năm 1945 nhà văn Nguyễn Tuân đã ca ngợi loại hình nghệ thuật này trong tác phẩm Chùa Đàn[11].

Nghệ thuật ca trù sau đó được khai thác trong nhiều bộ phim cũng như trong các chủ đề âm nhạc Việt Nam. Có thể bắt gặp ca trù trong phim Mê Thảo, thời vang bóng, Trăng tỏ thềm lan, Trò đời, Thương nhớ ở ai, Long thành cầm giả ca hay trong bài hát “Một nét ca trù ngày xuân”, “Mái đình làng biển” của nhạc sĩ Nguyễn Cường, “Trên đỉnh Phù Vân”, “Không thể và có thể”, “Chảy đi sông ơi”, “Một thoáng Tây Hồ” của Phó Đức Phương, “Chiều phủ Tây Hồ” của Phú Quang,”Chị tôi” của Trọng Đài (thơ Đoàn Thị Tảo), “Hà Nội linh thiêng hào hoa” của Lê Mây, “Đất nước lời ru” của Văn Thành Nho, “Nắng có còn xuân” của Đức Trí, “Giọt sương bay lên” của Nguyễn Vĩnh Tiến, “Chuyện nước non” của NSND Phạm Ngọc Khôi, “Vịnh xuân đất Tổ” của NSƯT Quang Vinh, “Đá trông chồng” của Lê Minh Sơn,…
Năm 1997, lần đầu tiên “Trên đỉnh Phù Vân” được ra mắt công chúng qua tiếng hát của Mỹ Linh. Âm hưởng dân gian đương đại, cùng những thanh âm lên xuống liên tục chưa khi nào dễ dàng đối với một giọng ca nhạc nhẹ, chính vì thế việc lựa chọn ca khúc này để hát đã là một quyết định vô cùng dũng cảm của Mỹ Linh trong những ngày đầu lập nghiệp. Cách xử lý phần nào nhuốm màu ca trù có lẽ là dụng ý nhằm làm nổi bật chất ma mị trong mỗi câu hát. Cùng với đó, sự tinh tế ở những đoạn chuyển khiến khán giả không ít lần phải… “gai người”.

Liên hoan ca trù toàn nước lần thứ nhất diễn ra tại thành phố Hà Tĩnh ( năm 2005 ). [ 12 ] Liên hoan ca trù toàn nước là hoạt động giải trí định kỳ của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, nhằm mục đích triển khai cam kết của nhà nước Nước Ta với UNESCO về công tác làm việc bảo vệ di sản văn hóa truyền thống quốc tế trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống phi vật thể ca trù .Theo thống kê của những nhà nghiên cứu, năm 2010 có 63 câu lạc bộ ở 15 tỉnh, thành phố trên cả Nước Ta có hoạt động giải trí liên tục và có kế hoạch rèn luyện truyền nghề ca trù. [ 13 ] Một số tỉnh thành phía Bắc, nổi bật là những tỉnh có nhiều câu lạc bộ ca trù như :

Hiện tại, nghệ thuật ca trù không chỉ dành riêng cho nữ giới mà nó đã phát triển một cách bình đẳng để mọi người cùng tham gia theo đuổi vì từ xưa nam giới chỉ chơi đàn, gõ trống phụ hoạ cho lời hát là chính. Nam giới (kép đàn) ngày nay cũng có thể vừa diễn tấu đàn vừa hát thay ca nương hoặc thay vào đó là một nữ nhạc công đệm đàn, gọi là “đàn nương”.

Ca trù mặc dầu đã được Phục hồi lại nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn vất vả trong tiếp thị, bảo tồn, do có một sự đứt gãy trong quá khứ, được cho là mang tính bác học khó hát, những nhạc cụ đàn đáy hay trống đế cũng không dễ chơi, người theo dõi trẻ tuổi thường không hiểu ý nghĩa của ca từ trong những bài hát ( mang đặc thù của chủ nghĩa yếm thế – khuyển nho, ca tụng một đời sống đức hạnh hòa hợp với vạn vật thiên nhiên, … ) …

Các nghệ sĩ ca trù nổi tiếng[sửa|sửa mã nguồn]

  • Hall, Patricia, ed. The Oxford Handbook of Music Censorship. New York: Oxford University Press, 2018.

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Rate this post
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments