Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam – Wikipedia tiếng Việt

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (viết tắt là BCHTW hoặc BCHTƯ) là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, bầu ra bởi Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày nay được tổ chức 5 năm một lần. BCHTW hiện tại là khóa XIII.

Theo thủ tục chính thức thì BCHTW bầu ra người đứng đầu là Tổng Bí thư và những thành viên khác trong Bộ Chính trị. BCHTW tổ chức triển khai họp tối thiểu là hai lần một năm .

Các thành viên của BCHTW được gọi là Ủy viên Trung ương Đảng, số lượng do từng lần Đại hội quyết định. Năm 1976 sau Đại hội IV thì số ủy viên là 101 người. Đến Đại hội VIII thì số ủy viên tăng lên 170.[1] Đại hội khóa X bầu ra 160 ủy viên chính thức và 21 ủy viên dự khuyết. Đến Đại hội XI (2011) gồm 175 ủy viên chính thức và 25 ủy viên dự khuyết. Đại hội XII (2016) bầu ra 180 ủy viên chính thức và 20 ủy viên dự khuyết. Con số này được duy trì ở Đại hội XIII (2021).

  • Tổ chức chỉ đạo thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc; quyết định những chủ trương, chính sách về đối nội, đối ngoại, công tác quần chúng và công tác xây dựng đảng; chuẩn bị Đại hội Đại biểu toàn quốc nhiệm kỳ tiếp theo, Đại hội đại biểu toàn quốc bất thường (nếu có).
  • Bầu Bộ Chính trị; bầu Tổng Bí thư trong số Ủy viên Bộ Chính trị; thành lập Ban Bí thư gồm Tổng Bí thư, một số Ủy viên Ban Bí thư do BCHTW bầu trong số Ủy viên BCHTW và một số Ủy viên Bộ Chính trị do Bộ Chính trị phân công; bầu Ủy ban Kiểm tra Trung ương; bầu Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương trong số Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Quyết định số lượng Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư và Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Bỏ phiếu tín nhiệm Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư giữa nhiệm kỳ. Quyết định một số vấn đề nhân sự khác theo thẩm quyền như cho thôi chức Ủy viên Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
  • Triệu tập Đại hội Đại biểu toàn quốc thường lệ 5 năm một lần; có thể triệu tập sớm hoặc muộn hơn, nhưng không quá một năm. Khi Ban Chấp hành Trung ương xét thấy cần hoặc khi có hơn một nửa số cấp Ủy trực thuộc yêu cầu thì BCHTW triệu tập Đại hội Đại biểu toàn quốc bất thường.

BCHTW có thẩm quyền giới thiệu người ra ứng cử Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ để Quốc hội thảo luận và phê chuẩn [2][3], tham gia ý kiến về nhân sự Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội và các thành viên Chính phủ.

Theo Điều lệ Đảng thì BCHTW quyết định hành động những hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả Ủy viên BCHTW, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị .Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định hành động những hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả đảng viên là cán bộ thuộc Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản trị nhưng không phải là Ủy viên BCHTW .Bộ Chính trị có thẩm quyền kỷ luật khiển trách, cảnh cáo Ủy viên BCHTW vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, hoạt động và sinh hoạt đảng, thực thi trách nhiệm đảng viên. Trong trường hợp không bổ nhiệm hoặc khai trừ, Bộ Chính trị báo cáo giải trình BCHTW xem xét, quyết định hành động .Điều lệ Đảng sửa đổi năm 2011 có pháp luật mới lan rộng ra quyền BCHTW ” địa thế căn cứ tình hình trong thực tiễn quyết định hành động chỉ huy thử nghiệm một số ít chủ trương mới “. Theo lao lý hiện hành thì BCHTW có quyền xem xét về yếu tố Hiến pháp, trước khi Quốc hội trải qua .

Phương thức thao tác[sửa|sửa mã nguồn]

Phiên họp thường kỳ của BCHTW được gọi Hội nghị Trung ương. Ban Chấp hành Trung ương làm việc theo chương trình toàn khóa và hàng năm (điều chỉnh khi cần thiết). Ban Chấp hành Trung ương họp thường lệ 6 tháng một lần.

Khi Bộ Chính trị thấy thiết yếu hoặc khi có trên 50% số Ủy viên BCHTW đề xuất thì Bộ Chính trị quyết định hành động triệu tập Hội nghị Trung ương không bình thường .Chủ tọa những Hội nghị Trung ương là những Ủy viên Bộ Chính trị đảm nhiệm những chức vụ :

Các Ủy viên BCHTW thường gồm các quan chức cấp cao trong bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể ở cấp trung ương và cấp tỉnh. Những chức vụ được liệt kê đảm bảo là “chức vụ khi được bầu”“tiếp tục giữ chức vụ đó”.

BCHTW xem xét việc chuyển Ủy viên BCHTW dự khuyết có đủ điều kiện để thay thế Ủy viên Trung ương chính thức khi khuyết.

Quyền hạn của những Ủy viên BCHTW theo lao lý của Đảng, gồm có tham gia quyết định hành động những trách nhiệm thuộc thẩm quyền BCHTW, và những quyền khác. Các Ủy viên dự khuyết không có quyền biểu quyết .Tại kỳ họp 6 CHTW khóa XI đã bàn và quyết nghị quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và những chức vụ chỉ huy chủ chốt của Đảng và Nhà nước, với những tiêu chuẩn được đặt ra với Ủy viên BCHTW, Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư và những chức vụ chỉ huy chủ chốt của Đảng và Nhà nước .Theo pháp luật hiện hành thì hàng năm, sẽ lấy phiếu tin tưởng những thành viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, với đối tượng người dùng ghi phiếu tin tưởng là những Ủy viên BCHTW.. [ 5 ]

Trách nhiệm và trách nhiệm Ủy viên[sửa|sửa mã nguồn]

  • Tham gia các tiểu ban, các Hội đồng tư vấn của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; có trách nhiệm xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức trong địa phương và ngành phụ trách.
  • Đề xuất với BCHTW cụ thể hóa đường lối của Đảng, trước hết là trong các lĩnh vực công tác được phân công, quán triệt các quyết định của Trung ương trong đơn vị.
  • Các Ủy viên Trung ương công tác trong các cơ quan nhà nước có trách nhiệm lãnh đạo cơ quan nhà nước thể chế hóa và tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng; khi giải quyết công việc, không lấy danh nghĩa thay mặt Trung ương, trừ trường hợp được Trung ương ủy nhiệm.
  • Chấp hành nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thực hiện nhiệm vụ Đảng viên, công dân,…
  • Báo cáo với Bộ Chính trị, Ban Bí thư về việc thực hiện nhiệm vụ được phân công và xin ý kiến về những chủ trương, chính sách lớn.
  • Chủ động báo cáo và đề xuất những vấn đề quan tâm với Bộ Chính trị, Ban Bí thư và BCHTW
  • Có quyền được thông tin, chất vấn hoạt động của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cá nhân Ủy viên Trung ương khác và phải được trả lời.
  • Có quyền ứng cử, đề cử vào Bộ Chính trị, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, vào các chức vụ Tổng Bí thư, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương và xin rút khỏiBCCHHTTW, các cơ quan lãnh đạo và chức danh trên.

Cơ quan tham mưu giúp việc[sửa|sửa mã nguồn]

Ban Chấp hành Trung ương Đảng có những cơ quan tham mưu giúp việc là :

Các đơn vị chức năng sự nghiệp thường trực[sửa|sửa mã nguồn]

Hiện có bốn cơ quan huấn luyện và đào tạo cán bộ, nghiên cứu và điều tra, báo chí truyền thông, xuất bản. Về mặt tổ chức triển khai, những cơ quan này tương tự với những Ban Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam :

Các Đảng ủy cơ quan thường trực[sửa|sửa mã nguồn]

Ban Chấp hành Trung ương trước Đại hội lần thứ nhất của Đảng[sửa|sửa mã nguồn]

Ban Chấp hành Trung ương lâm thời xây dựng sau Hội nghị xây dựng đảng tháng 2 năm 1930 có : Trịnh Đình Cửu ( Phụ trách Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ), Nguyễn Hới, Trần Văn Lan, Nguyễn Phong Sắc, Lê Mao, Phạm Hữu Lầu, Hoàng Quốc Việt, Lưu Lập Đạo ( bổ trợ ), sau đến tháng 7 bổ trợ thêm Trần Phú. Ít lâu sau hội nghị trên, Trịnh Đình Cửu xin rút khỏi Ban Chấp hành Trung ương lâm thời để nhận công tác làm việc ở Xử Ủy Bắc Kỳ. Một số bị Pháp bắt sau đó ( Nguyễn Hới, Hoàng Quốc Việt, Phạm Hữu Lầu, sau Nguyễn Hới hi sinh ). Xứ Ủy Nam Kỳ cử Nguyễn Trọng Nhã và Ngô Đức Trì tham gia Ban Chấp hành TW lâm thời .Sau Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ nhất tháng 10 năm 1930, Ban Chấp hành Trung ương gồm 6 Ủy viên : Trần Phú, Ngô Đức Trì, Nguyễn Trọng Nhã, Trần Văn Lan, Nguyễn Phong Sắc, Lê Mao. Tổng Bí thư : Trần Phú .

Phong trào nổi dậy 1930-1931, nổi bật là Xô-viết Nghệ Tĩnh bị Pháp đàn áp. Tổ chức của đảng bị tan vỡ, kể cả Ban Chấp hành TW, Trần Phú, Trần Văn Lan, Nguyễn Phong Sắc… hi sinh. Cuối năm 1931, Lê Hồng Phong trở về Trung Quốc bắt liên lạc với cán bộ Việt Nam ở nước ngoài như: Hoàng Đình Giong, Hoàng Văn Thụ… mục đích lập lại Ban chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng và thảo chương trình hành động của Đảng.

Tháng 3 năm 1934, Ban chỉ huy ở ngoài được xây dựng gồm có Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Dựt do Lê Hồng Phong làm Bí thư. Sau đó còn có thêm những người khác như Phùng Chí Kiên. Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng trước Đại hội I có tính năng như thể Ban chấp hành Trung ương Lâm thời và được Quốc tế cộng sản công nhận, lao lý rõ công dụng trách nhiệm .

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Rate this post
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments