Luận văn thạc sĩ toán học Tăng cường liên hệ với thực tiễn trong quá trình dạy

Luận văn thạc sĩ toán học Tăng cường liên hệ với thực tiễn trong quá trình dạy học một số chủ đề giải tích ở trường trung học phổ thông

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.47 MB, 135 trang )

Mở đầu
I. Lí do chọn đề tài
1.1. Đào tạo những người lao động phát triển toàn diện, có tư duy sáng
tạo, có năng lực thực hành giỏi, có khả năng đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao
trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá gắn với phát triển nền
kinh tế trí thức và xu hướng toàn cầu hoá là nhiệm vụ cấp bách đối với ngành
giáo dục nước ta hiện nay. Để thực hiện được nhiệm vụ đó sự nghiệp giáo dục
cần được đổi mới. Cùng với những thay đổi về nội dung, cần có những đổi mới
căn bản về tư duy giáo dục và phương pháp dạy học, trong đó phương pháp
dạy học môn Toán là một yếu tố quan trọng. Một trong những nhiệm vụ và giải
pháp lớn về giáo dục được đề ra trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của
Đảng là: “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Đổi mới cơ cấu, tổ chức,
nội dung, phương pháp dạy và học theo hướng ‘‘chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã
hội hoá”. Phát huy trí sáng tạo, khả năng vận dụng, thực hành của người học.
Đề cao trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội” [43, tr. 58].
1.2. ”Lí luận liên hệ với thực tiễn” là một yêu cầu có tính nguyên tắc trong
dạy học môn Toán được rút ra từ luận điểm triết học: ”Thực tiễn là nguồn gốc
của nhận thức, là tiêu chuẩn của chân lí”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Thống
nhất giữa lí luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác –
Lênin. Thực tiễn không có lí luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lí
luận mà không liên hệ với thực tiễn là lí luận suông” [52, tr. 66]. Trong lĩnh vực
Giáo dục và Đào tạo, Bác là người có quan điểm và hành động chiến lược vượt
tầm thời đại. Về mục đích việc học Bác xác định rõ: học để làm việc. Còn về
phương pháp học tập Người xác định: Học phải gắn liền với hành; học tập suốt
đời; học ở mọi nơi, mọi lúc, mọi người. Quan điểm này được Người nhấn mạnh:
“Học để hành: Học với hành phải đi đôi. Học mà không hành thì vô ích. Hành
mà không học thì không trôi chảy”. Vấn đề này đã được cụ thể hoá và quy định
trong Luật giáo dục nước ta (năm 2005). Tại chương 1, điều 3, khoản 2: ”Hoạt
1
động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo
dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà

trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”. Chương 2, mục 2, điều
27 và 28 xác định rằng: “Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh,
có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục
học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”.
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,
sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi
dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,
hứng thú học tập cho học sinh”.
1.3. Toán học có nguồn gốc thực tiễn và là “chìa khoá” trong hầu hết các
hoạt động của con người. Nó có mặt ở khắp nơi. Toán học là kết quả của sự trừu
tượng hoá các sự vật hiện tượng trong thực tiễn trên những bình diện khác nhau
và có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chung của giáo dục phổ
thông. Mặc dù là ngành khoa học có tính trừu tượng cao nhưng Toán học có mối
liên hệ chặt chẽ với thực tiễn và có thể ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực
khác nhau: là công cụ để học tập các môn học trong nhà trường, nghiên cứu
nhiều ngành khoa học và là công cụ để hoạt động trong sản xuất và đời sống thực
tế. Trong thư gửi các bạn trẻ yêu toán, thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhấn mạnh:
“Dù các bạn phục vụ ở nghành nào, trong công tác nào, thì các kiến thức và
phương pháp toán cũng cần cho các bạn” [7, tr. 14]. ”Toán học có vai trò quan
trọng trong khoa học công nghệ cũng như trong đời sống” [19, tr. 50].
1.4. Mặc dù vậy, do nhiều lí do khác nhau mà SGK Toán phổ thông nói
chung, sách Đại số và Giải tích 11; Giải tích 12 (chỉnh lí hợp nhất năm 2000)
nói riêng, chưa thực sự quan tâm đúng mức, thường xuyên tới việc làm rõ mối
liên hệ với thực tiễn ngoài Toán học, nhằm bồi dưỡng cho học sinh ý thức và
2
năng lực vận dụng những hiểu biết Toán học vào việc học tập các môn học
khác, giải quyết nhiều tình huống đặt ra trong cuộc sống lao động sản xuất.
Bên cạnh đó, thực trạng dạy học Toán ở trường phổ thông cho thấy rằng,
đa số giáo viên chỉ quan tâm tới việc truyền thụ lí thuyết, thiếu thực hành và

liên hệ kiến thức với thực tiễn. Học sinh ”đang học Toán chỉ giới hạn trong
phạm vi bốn bức tường của lớp học, thành thử không để ý đến những tương
quan Toán học quen thuộc trong thế giới những sự vật hiện tượng xung quanh,
không biết ứng dụng những kiến thức Toán học đã thu nhận được vào thực
tiễn” [33, tr. 5]. Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn thì coi đây là kiểu ”Dạy và học
toán tách rời cuộc sống đời thường”.
1.5. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học và nội dung sách giáo khoa
của Bộ giáo dục và Đào tạo đã xác định rõ: Cần dạy học theo cách sao cho học
sinh có thể nắm vững tri thức, kỉ năng và sẵn sàng vận dụng vào thực tiễn. Tạo cơ
sở để học sinh học tiếp hoặc đi vào cuộc sống lao động. Sách giáo khoa cần chú ý
nêu rõ ý nghĩa và ứng dụng của các kiến thức, chú ý mối quan hệ liên môn.
Gần đây đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này,
trong đó phải kể đến:
– Nguyễn Ngọc Anh (2000), ứng dụng phép tính vi phân (Phần đạo hàm) để
giải các bài tập cực trị có nội dung liên môn và thực tế trong dạy học toán 12
trung học phổ thông, Luận án Tiến sỹ Giáo dục học, Viện khoa học giáo dục, Hà Nội.
– Nguyễn Văn Bảo (2005), Góp phần rèn luyện cho học sinh năng lực vận
dụng kiến thức Toán học để giải quyết một số bài toán có nội dung thực tiễn,
Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học, trường Đại học Vinh.
– Bùi Huy Ngọc (2003), Tăng cường khai thác nội dung thực tế trong
dạy học Số học và Đại số nhằm nâng cao năng lực vận dụng Toán học vào
3
thực tiễn cho học sinh Trung học cơ sở, Luận án Tiến sỹ Giáo dục học,
Trường Đại học Vinh, Vinh.
Luận văn này trên cơ sở kế thừa, phát triển và cụ thể hoá những kết quả
nghiên cứu của các tác giả đi trước, nhằm tìm hiểu để làm sáng tỏ thêm việc tăng
cường liên hệ các kiến thức Giải tích ở trường Trung học phổ thông với thực tiễn.
Vì những lí do trên đây, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu của Luận văn là:
“Tăng cường liên hệ với thực tiễn trong quá trình dạy học một số chủ đề
Giải tích ở trường trung học phổ thông”.

II. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của Luận văn là tìm hiểu mối liên hệ của một số kiến thức Giải
tích trong chương trình Toán phổ thông với thực tiễn và vận dụng vào đổi mới
Phương pháp dạy học, nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Toán học
cho học sinh Trung học phổ thông.
III. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Tổng hợp các quan điểm của các nhà khoa học liên quan đến vấn đề
tăng cường liên hệ với thực tiễn trong dạy Toán nói chung và dạy học Giải
tích nói riêng.
3.2. Nghiên cứu kĩ nội dung các SGK Đại số và Giải tích 11; Giải tích 12
hiện hành và các tài liệu tham khảo có liên quan để làm rõ những nội dung có
mối liên hệ chặt chẽ với thực tiễn.
3.3. Tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân của việc dạy và học môn Giải
tích ở trường Trung học phổ thông theo hướng nghiên cứu của đề tài.
3.4. Xây dựng một số biện pháp tăng cường liên hệ với thực tiễn trong quá
trình dạy học Giải tích lớp 11 và 12 nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học.
4
3.5. Tiến hành tổ chức thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi của
một số phương án dạy học môn Giải tích nhằm điều chỉnh và rút ra kết luận.
IV. Giả thuyết khoa học
Giả thuyết khoa học của đề tài là: trên cơ sở tôn trọng sách giáo khoa hiện
hành, nếu giáo viên chú ý đến việc tăng cường liên hệ với thực tiễn trong quá
trình dạy học thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng học tập môn Giải tích ở nhà
trường phổ thông và góp phần đào tạo những người lao động đáp ứng yêu cầu
của đất nước trong giai đoạn hội nhập hiện nay.
V. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu lí luận: Tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu toán học;
phương pháp dạy học môn Toán và các tài liệu khác liên quan đến đề tài.
5.2. Quan sát: Quan sát thực trạng dạy và học môn Toán nói chung và
phân môn Giải tích nói riêng ở trường phổ thông ở một số địa phương.

5.3. Thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm sư phạm để xem xét
tính khả thi và hiệu quả của việc tăng cường liên hệ với thực tiễn trong dạy học
Giải tích ở trường phổ thông.
VI. Những đóng góp của luận văn
6.1. Góp phần làm rõ tầm quan trọng của việc rèn luyện cho học sinh ý
thức tăng cường liên hệ với thực tiễn trong quá trình dạy học.
6.2. Làm rõ sự phản ánh thực tiễn, nguồn gốc thực tiễn và các ứng dụng
trong thực tiễn của một số vấn đề Giải tích.
6.3. Đề xuất một số quan điểm cơ bản nhằm làm cơ sở đưa ra một số biện
pháp tăng cường liên hệ với thực tiễn trong quá trình dạy học Giải tích.
6.4. Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên ngành Sư
phạm Toán và giáo viên Toán ở trường Trung học phổ thông.
5
VII. Cấu trúc luận văn
Mở đầu
I. Lí do chọn đề tài
II. Mục đích nghiên cứu
III. Nhiệm vụ nghiên cứu
IV. Giả thuyết khoa học
V. Phương pháp nghiên cứu
VI. Đóng góp của Luận văn
Chương 1: Một số vấn đề cơ sở lí luận và thực tiễn
1.1. Về phạm trù thực tiễn
1.2. Nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn trong dạy học Toán
1.3. Mục đích của việc tăng cường liên hệ với thực tiễn trong quá trình
dạy học Toán ở trường Trung học phổ thông
1.4. Cơ sở thực tiễn
1.5. Kết luận chương 1
Chương 2: Dạy học môn Giải tích ở trường phổ thông theo hướng
tăng cường liên hệ với thực tiễn

2.1. Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của một số vấn đề Giải tích
2.2. Tiềm năng của một số chủ đề Giải tích trong việc rèn luyện cho học
sinh năng lực liên hệ với thực tiễn
2.3. Một số biện pháp sư phạm nhằm tăng cường liên hệ với thực tiễn
trong quá trình dạy học Giải tích
2.4. Kết luận chương 2
6
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
3.1. Mục đích thực nghiệm
3.2. Tổ chức thực nghiệm
3.3. Nội dung thực nghiệm
3.4. Phân tích kết quả thực nghiệm
3.5. Kết luận chung về thực nghiệm
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Chương 1
Một số vấn đề Cơ sở lí luận và thực tiễn
7
Trong chương này chúng tôi sẽ trình bày ngắn gọn một số lí luận và hoạt
động thực tiễn liên quan đến vấn đề “Tăng cường liên hệ với thực tiễn trong
dạy học Toán” nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu chương 2. Cụ thể sẽ làm rõ:
• Triết học quan niệm về thực tiễn như thế nào?
• Nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn và việc vận dụng vào
quá trình dạy học Toán.
• Tại sao phải tăng cường liên hệ với thực tiễn trong dạy học Toán?
• Làm rõ thực trạng dạy học và nội dung các SGK theo hướng nghiên cứu
của đề tài.
1.1. Về phạm trù thực tiễn
1.1.1. Thuật ngữ thực tiễn trong một số tài liệu ngôn ngữ khoa học
Theo Từ điển Tiếng Việt: ‘Thực tiễn” là ”những hoạt động của con

người, trước hết là lao động sản xuất, nhằm tạo ra những điều kiện cần thiết
cho sự tồn tại của xã hội (nói tổng quát)” [56, tr. 974].
Còn Từ điển học sinh thì định nghĩa: “Thực tiễn” là “toàn bộ những hoạt
động của con người để tạo ra những điều kiện cần thiết cho đời sống xã hội bao
gồm các hoạt động sản xuất, đấu tranh giai cấp và thực nghiệm khoa học:
không có thực tiễn thì không có lí luận khoa học” [31, tr. 575].
1.1.2. Phạm trù thực tiễn trong Triết học
Phạm trù thực tiễn đã được Lútvích Phoiơbắc – nhà duy vật lớn nhất trước
Mác đề cập đến. Song ông không nhận thức được ”hoạt động cảm giác của con
người là thực tiễn” nên còn quá coi trọng hoạt động lí luận và chưa thấy hết
được vai trò, ý nghĩa của thực tiễn đối với nhận thức của con người.
Các nhà duy tâm cũng chỉ hiểu thực tiễn như là hoạt động tinh thần chứ
không hiểu nó như là hoạt động hiện thực, hoạt động vật chất cảm tính của con
8
người. Ngay cả Hêghen – nhà triết học duy tâm lớn nhất trước Mác, mặc dù đã
có những tư tưởng hợp lí sâu sắc (bằng thực tiễn, chủ thể tự ”nhân đôi” mình, đối
tượng hoá bản thân mình trong quan hệ với thế giới bên ngoài [52, tr. 53] )
nhưng cũng chỉ giới hạn thực tiễn ở ý niệm, ông cho rằng thực tiễn là một ”suy
lí lôgíc”.
Kế thừa những yếu tố hợp lí, chỉ rõ và khắc phục những thiết sót trong
quan điểm của các nhà triết học đi trước. Mác và ăngghen đã đem lại một quan
niệm đúng đắn, khoa học về thực tiễn: ”Thực tiễn là những hoạt động vật chất
”cảm tính”, có mục đích, có tính lịch sử xã hội của con người, nhằm cải tạo tự
nhiên và xã hội” [52, tr. 54].
Như vậy, thực tiễn không phải bao gồm toàn bộ hoạt động của con người
mà chỉ là những hoạt động vật chất – hoạt động đặc trưng, có mục đích, có ý
thức, năng động, sáng tạo. Hoạt động này có sự thay đổi qua các giai đoạn lịch
sử khác nhau và được tiến hành bởi đông đảo quần chúng nhân dân trong xã
hội. Con người sử dụng các phương tiện, công cụ vật chất, sức mạnh vật chất
của mình tác động vào tự nhiên, xã hội để làm biến đổi chúng trong hiện thực

cho phù hợp với nhu cầu của mình và làm cơ sở để biến đổi hình ảnh sự vật
trong nhận thức. ”Thực tiễn trở thành mắt khâu trung gian nối liền ý thức con
người với thế giới bên ngoài” [52, tr. 55]. Con người và xã hội loài người sẽ
không thể tồn tại và phát triển được nếu không có hoạt động thực tiễn (mà
dạng cơ bản đầu tiên và nguyên thuỷ nhất là hoạt động sản xuất vật chất).
”Thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội, là phương
thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người với thế giới” [52, tr. 55].
1.2. Nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn trong dạy học Toán
1.2.1. Nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn
9
Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động
qua lại lẫn nhau. Việc quán triệt mối quan hệ này có ý nghĩa quan trọng trong
nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn cách mạng. Con người quan hệ với
thế giới bắt đầu từ thực tiễn. Lý luận là hệ thống sản phẩm tri thức được khái
quát từ thực tiễn nhờ sự phát triển cao của nhận thức.
Thực tiễn là cơ sở, mục đích và động lực chủ yếu của nhận thức, lý luận.
Thực tiễn cung cấp tài liệu cho nhận thức, không có thực tiễn thì không có
nhận thức. Mọi tri thức khoa học dù trực tiếp hay gián tiếp thì xét đến cùng đều
bắt nguồn từ thực tiễn. Nhận thức, lý luận sau khi ra đời phải quay về phục vụ
thực tiễn, hướng dẫn và chỉ đạo thực tiễn. Ngược lại, thực tiễn là công cụ xác
nhận, kiểm nghiệm tri trức thu được là đúng hay sai, chân lý hay sai lầm và
nghiêm khắc chứng minh chân lý, bác bỏ sai lầm – “Thực tiễn là tiêu chuẩn của
chân lý”. Cần coi trọng thực tiễn. Việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn,
dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu đi sát thực tiễn, nghiên cứu lý luận phải liên hệ
với thực tiễn, “học đi đôi với hành”. Tuy nhiên không có nghĩa là coi nhẹ, xa
rời lý luận. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Thống nhất giữa lí luận và thực tiễn
là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Thực tiễn không có lí
luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lí luận mà không liên hệ với
thực tiễn là lí luận suông” [52, tr. 66].
1.2.2. Một số quan điểm về vấn đề liên hệ với thực tiễn trong dạy học

Trong lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có
quan điểm và hành động chiến lược vượt tầm thời đại. Về mục đích việc học
Bác xác định rõ: Học để giúp dân cứu nước; học để làm việc. Còn về phương
pháp học tập (là một nội dung của mục đích học) Người xác định: Học phải gắn
liền với hành; học tập suốt đời; học ở mọi nơi, mọi lúc, mọi người. Quan điểm
này được Người nhấn mạnh: “Học để hành: Học với hành phải đi đôi. Học mà
không hành thì vô ích. Hành mà không học thì không trôi chảy” [37, tr. 2-3-5].
10
Đồng chí Trường Chinh cũng đã nêu: “dạy tốt là khi giảng bài phải liên hệ
với thực tiễn, làm cho học sinh dễ hiểu, dễ nhớ và có thể áp dụng điều mình đã
học vào công tác thực tiễn được”.
Còn theo Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, trong dạy học không nên đi theo
con đường sao chép lí luận ở đâu đó rồi nhồi cho người học, vì học như vậy là
kiểu học sách vở. Nên theo con đường có một lí luận hướng dẫn ban đầu rồi
bắt tay hoạt động thực tiễn, dùng thực tiễn này mà củng cố lí luận, kế thừa
có phê phán lí luận của người khác, rồi lại hoạt động thực tiễn, cứ thế theo mối
quan hệ qua lại giữa lí luận và thực tiễn mà đi lên.
1.2.3. Nguyên lý giáo dục và định hướng tăng cường liên hệ với thực
tiễn trong dạy học môn Toán
1.2.2.1. Nguyên lý giáo dục
Luật Giáo dục nước ta (năm 2005) xác định: ”Hoạt động giáo dục phải
được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao
động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với
giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”.
1.2.2.2. Định hướng tăng cường liên hệ với thực tiễn trong dạy học môn Toán
Toán học là môn học có tính trừu tượng cao. Tuy nhiên, Toán học có
nguồn gốc thực tiễn nên tính trừu tượng chỉ che lấp chứ không hề làm mất đi
tính thực tiễn của nó. Với vai trò là môn học công cụ nên các tri thức, kĩ năng
và phương pháp làm việc của môn Toán được sử dụng cho việc học tập các
môn học khác trong nhà trường, trong nhiều ngành khoa học khác nhau và

trong đời sống thực tế. Chẳng hạn, trong Vật lí chúng ta gặp mối liên hệ giữa
quảng đường đi được s và thời gian t trong một chuyển động đều biểu thị bởi: s
= vt, mối liên hệ giữa hiệu điện thế U và cường độ dòng điện I khi điện trở R
không đổi biểu thị bởi: U = I.R; trong Hình học chúng ta gặp mối liên hệ giữa
11
chu vi C và bán kính R của đường tròn biểu thị bởi: C = 2
π
R; trong Hóa học
chúng ta gặp mối liên hệ giữa phân tử gam M của một chất khí với tỉ khối d
của chất khí đó đối với không khí biểu thị bởi: M = 29d; mối quan hệ giữa giá
tiền p với chiều dài n của tấm vải biểu thị bởi: p = a.n;… Bằng cách trừu tượng
hóa, gạt ra một bên các đại lượng cụ thể và chỉ chú ý tới quan hệ của các đại
lượng đó, chúng ta có hàm số y = a.x.
Do vậy, có thể nói rằng, môn Toán có nhiều tiềm năng liên hệ với thực
tiễn trong dạy học. Theo [19, tr. 71] thì liên hệ với thực tiễn trong quá trình dạy
học Toán là một trong ba phương hướng thực hiện Nguyên lí giáo dục nói trên.
Cụ thể là cần liên hệ với thực tiễn qua các mặt sau:
1) Nguồn gốc thực tiễn của Toán học: số tự nhiên ra đời do nhu cầu đếm,
hình học xuất hiện do nhu cầu đo đạc lại ruộng đất sau những trận lụt bên bờ
sông Nil (Ai cập), …
2) Sự phản ánh thực tiễn của Toán học: khái niệm véctơ phản ánh những
đại lượng đặc trưng không phải chỉ bởi số đo mà còn bởi hướng, chẳng hạn vận
tốc, lực,… khái niệm đồng dạng phản ánh những hình đồng dạng nhưng khác
nhau về độ lớn… trong Toán học có chứng minh thuận, chứng minh đảo thì
trong cuộc sống ta thường khuyên nhau: “nghĩ đi rồi phải nghĩ lại”, “có qua có
lại”, “sống phải có trước có sau”, …
3) Các ứng dụng thực tiễn của Toán học: ứng dụng lượng giác để đo
khoảng cách không tới được, đạo hàm được ứng dụng để tính vận tốc tức thời,
tích phân được ứng dụng để tính diện tích, thể tích… Muốn vậy, cần quan tâm
tăng cường cho học sinh tiếp cận với những bài toán có nội dung thực tiễn

trong khi học lí thuyết cũng như làm bài tập.
12
– Trong nội bộ môn Toán, cần cho học sinh làm toán có nội dung thực tiễn
như giải bài toán bằng cách lập phương trình, bài toán cực trị, đo khoảng cách
không tới được…
– Cần cho học sinh vận dụng những tri thức và phương pháp Toán học vào
những môn học trong nhà trường, chẳng hạn vận dụng véctơ để biểu thị lực,
vận tốc, gia tốc, vận dụng đạo hàm để tính vận tốc tức thời trong Vật lí, vận
dụng tổ hợp xác suất khi nghiên cứu di truyền, vận dụng tri thức về hình học
không gian trong vẽ kĩ thuật…
– Tổ chức những hoạt động thực hành toán học trong và ngoài nhà trường
kể cả những hoạt động có tính chất tập dượt nghiên cứu bao gồm khâu đặt bài
toán, xây dựng mô hình, thu thập dữ liệu, xử lí mô hình để tìm lời giải, đối
chiếu lời giải với thực tế để kiểm tra và điều chỉnh [16, tr. 53].
Tất cả những hoạt động trên cần dẫn tới hình thành phẩm chất luôn luôn
muốn ứng dụng tri thức và phương pháp Toán để giải thích, phê phán và giải
quyết những sự việc xảy ra trong đời sống. Chẳng hạn, khi nhìn thấy một số
ghi ở một cột bên lề đường, có thể học sinh chưa biết được số đó chỉ cái gì.
Chính ý thức và phong cách vận dụng Toán học sẽ thôi thúc họ xem xét sự biến
thiên của các số trên các cột để giải đáp điều đó. Tác giả Trần Kiều cho rằng:
“Học Toán trong nhà trường phổ thông không phải chỉ tiếp nhận hàng loạt các
công thức, định lý, phương pháp thuần túy mang tính lí thuyết, cái đầu tiên
và cái cuối cùng của quá trình học Toán phải đạt tới là hiểu được nguồn gốc
thực tiễn của Toán học và nâng cao khả năng ứng dụng, hình thành thói quen
vận dụng Toán học vào cuộc sống” [21, tr. 3 – 4]. “Loại trừ những ứng dụng
khỏi Toán học chẳng khác gì đi tìm một thực thể sống chỉ từ một hài cốt,
không bắp thịt, không thần kinh, không mạch máu” [6, tr. 31]. Tuy nhiên, trước
hết học sinh cần được trang bị cho một hệ thống vững chắc những tri thức, kĩ
13
năng, phương pháp Toán học phổ thông một cách có hệ thống, cơ bản, hiện

đại, sát thực tiễn Việt Nam theo tinh thần giáo dục kĩ thuật tổng hợp.
1.3. Mục đích của việc tăng cường liên hệ với thực tiễn trong quá
trình dạy học Toán ở trường Trung học phổ thông
1.3.1. Tăng cường liên hệ với thực tiễn góp phần hoàn thành mục tiêu,
nhiệm vụ dạy học bộ môn Toán ở trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay
Trước hết ta đề cập đến mục tiêu chung của của giáo dục nước ta đã được
quy định trong Luật Giáo dục (năm 2005): “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là
giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các
kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình
thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và
trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc
sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Điều 27). Nói một cách
tổng quát, mục tiêu của nhà trường phổ thông nước ta là hình thành những cơ
sở ban đầu và trọng yếu của con người mới phát triển toàn diện phù hợp với
yêu cầu và điều kiện, hoàn cảnh của đất nước Việt Nam.
Hiện nay, thế giới đã bước vào kỉ nguyên kinh tế tri thức và toàn cầu hóa
cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đặc biệt là lĩnh vực
công nghệ kỉ thuật cao. Còn nước ta, vào tháng 4 năm 2006, diễn ra Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ 10; ngày 07 tháng 11 năm 2006 Việt Nam trở thành
thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và ngày 17
tháng 11 năm 2006 khai mạc Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu á – Thái Bình
Dương (APEC) lần thứ 14 tại Hà Nội. Việt Nam đang tự tin bước vào một kỉ
nguyên mới – kỉ nguyên hội nhập quốc tế và hợp tác cạnh tranh toàn cầu.
Để theo kịp với những chuyển biến to lớn trên về tình hình kinh tế và
chính trị xã hội của nước ta cũng như trên thế giới trong giai đoạn này – một
14
giai đoạn mà cạnh tranh quốc tế là cạnh tranh về con người. Nền giáo dục phải
có sứ mệnh làm sao đào tạo ra những thế hệ con người Việt Nam có đủ sức
mạnh trí tuệ và nhân cách để đưa nước ta hội nhập thành công và cạnh tranh
thắng lợi trong môi trường toàn cầu. Giáo sư Hoàng Tụy đã từng có ý kiến cho

rằng: “xã hội công nghệ ngày nay đòi hỏi một lực lượng lao động có trình độ
suy luận, biết so sánh phân tích, ước lượng tính toán, hiểu và vận dụng được
những mối quan hệ định lượng hoặc lôgic, xây dựng và kiểm nghiệm các giả
thuyết và mô hình để rút ra những kết luận có tính lôgic” [53, tr. 5 – 6]. Muốn
vậy, nền giáo dục cũng phải có những thay đổi về mục tiêu, nhiệm vụ và
phương pháp dạy học. Trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng,
một trong những nhiệm vụ và giải pháp lớn về giáo dục được đề ra là: “Nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện. Đổi mới cơ cấu, tổ chức, nội dung, phương
pháp dạy và học theo hướng “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”. Phát huy trí
sáng tạo, khả năng vận dụng, thực hành của người học. Đề cao trách nhiệm của
gia đình, nhà trường và xã hội” [43, tr. 58].
Trong trường phổ thông môn Toán có vai trò, vị trí và ý nghĩa hết sức
quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chung của giáo dục phổ thông. Đặc
biệt trong giai đoạn hiện nay nó càng có vai trò và ý nghĩa quan trọng hơn, là
một thành phần không thể thiếu của trình độ văn hóa phổ thông của con người mới.
1.3.1.1. Tăng cường liên hệ với thực tiễn góp phần hoàn thiện một số tri
thức và kĩ năng toán học cần thiết cho học sinh
Trong quá trình liên hệ với thực tiễn, thông qua một yếu tố lịch sử, một
ứng dụng Toán học nào đó hoặc một mệnh đề đánh giá (chẳng hạn, “Toán học
là “chìa khóa” của hầu hết các hoạt động của con người”.) thì hai dạng tri thức
là tri thức sự vật và tri thức giá trị được hình thành và hoàn thiện.
Còn thông qua các ứng dụng Toán học, học sinh sẽ được rèn luyện những
kĩ năng trên các bình diện khác nhau sau:
15
– Kĩ năng vận dụng tri thức trong nội bộ môn Toán.
– Kĩ năng vận dụng tri thức Toán học vào các môn học khác nhau.
– Kĩ năng vận dụng Toán học vào đời sống.
Qua việc rèn luyện các kĩ năng trên bình diện thứ nhất và thứ hai sẽ nâng
cao mức độ thông hiểu tri thức Toán học cho học sinh. Vì rằng muốn vận dụng
được tri thức để làm toán thì cần phải thông hiểu nó. Đồng thời, thể hiện vai trò

công cụ của Toán học đối với những khoa học khác; thể hiện mối quan hệ liên
môn giữa các môn học trong nhà trường. Do vậy người giáo viên dạy Toán cần
có quan điểm tích hợp trong dạy học bộ môn. Còn trên bình diện thứ ba, đây là
một mục tiêu quan trọng của môn Toán. Cho học sinh thấy rõ mối liên hệ giữa
Toán học và đời sống. Qua đây, giúp học sinh hình thành và phát triển kĩ năng
“toán học hóa tình huống thực tế”.
Dựa vào sự phân tích các mục tiêu dạy học của Benjamin Bloom và các
cộng sự (Dẫn theo [19, tr. 51 – 52]), quá trình liên hệ với thực tiễn trong dạy
học Toán còn giúp học sinh phối hợp giữa chiếm lĩnh tri thức và rèn luyện kĩ
năng thể hiện ở 6 chức năng trí tuệ từ thấp lên cao thể hiện qua sơ đồ sau:
Như vậy, việc tăng cường liên hệ với thực tiễn trong dạy học Toán đã
giúp học sinh hoàn thiện các tri thức như tri thức phương pháp, tri thức giá trị
và rèn luyện nhằm hoàn thiện một số kĩ năng như kĩ năng ứng dụng (cả trong
và ngoài môn Toán), kĩ năng phân tích, tổng hợp, đánh giá…
1.3.1.2. Tăng cường liên hệ với thực tiễn giúp hình thành và phát triển thế
giới quan duy vật biện chứng cho học sinh
Biết Thông
hiểu
Vận
dụng
Phân
tích
Tổng
hợp
Đánh giá
16
Phôc vô
X©y dùng nªn
C¸c lÝ thuyÕt To¸n
häc

Thùc tiÔn
Dạy học Toán theo hướng tăng cường liên hệ với thực tiễn sẽ góp phần
làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa Toán học và thực tiễn: Toán học bắt
nguồn từ thực tiễn và trở về phục vụ thực tiễn.
Lịch sử đã cho thấy rằng, Toán học có nguồn gốc thực tiễn, chính sự phát
triển của thực tiễn đã có tác dụng lớn đối với toán học. Thực tiễn là cơ sở để
nảy sinh, phát triển và hoàn thiện các lí thuyết Toán học.
Ví dụ: Số tự nhiên ra đời do nhu cầu đếm các đồ vật. Tập hợp số nguyên
được xây dựng để cho phép trừ luôn thực hiện được, hoặc các phương trình
dạng a + x = b luôn có nghiệm. Trong quá trình đo đạc nhiều khi gặp phải
những đại lượng không chứa đựng một số tự nhiên hoặc do nhu cầu chia những
vật ra nhiều phần bằng nhau mà số biểu diễn bởi phân số được phát sinh. Hệ
thống số hữu tỉ được hình thành do nhu cầu đo những đại lượng có thể xét theo
hai chiều ngược nhau. Hệ thống số thực được xây dựng do nhu cầu đo những
đoạn thẳng, sao cho mỗi đoạn thẳng, kể cả những đoạn thẳng không đo được
bằng số hữu tỉ, đều có một số đo. Trong lịch sử Toán học, để giải phương trình
bậc 3 người ta đã phải giải phương trình bậc 2 như một bước trung gian. Khi
xét phương trình: x
3
– x = 0 rõ ràng là có 3 nghiệm 0, 1, -1 nhưng ta nhận thấy
rằng phương trình bậc 2 trung gian lại có biệt số âm. Việc “Không có căn bậc 2
của số âm”, “Phương trình bậc 2 vô nghiệm khi biệt số âm” đã làm xuất hiện
mâu thuẫn. Nhưng nếu thử chấp nhận những số mà bình phương bằng -1 (một
cách hình thức) để biểu thị nghiệm của phương trình bậc hai trung gian thì cuối
cùng cũng đi đến ba nghiệm của phương trình bậc 3 nói trên. Thực tế này gợi ra
việc cần phải mở rộng tập số thực, đưa thêm vào cả những số mà bình phương
bằng số âm, đi đến tập hợp số phức.
Như vậy, học sinh sẽ hình thành được quan điểm duy vật về nguồn gốc
Toán học, thấy rõ Toán học không phải là một sản phẩm thuần tuý của trí tuệ
17

mà được phát sinh và phát triển do như cầu thực tế cuộc sống. Đồng thời cũng
giúp học sinh nghiệm ra rằng mâu thuẫn biện chứng là động lực của sự phát triển.
Ngược lại, toán học lại xâm nhập vào thực tiễn thúc đẩy thực tiễn phát
triển. Với vai trò là công cụ, Toán học sẽ giúp giải quyết các bài toán do thực
tiễn đặt ra. Mối quan hệ biện chứng giữa lí luận và thực tiễn cũng thể hiện qua
công thức nhận thức thiên tài của V. I. Lênin: “Từ trực quan sinh động đến tư
duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường nhận
thức chân lí, con đường nhận thức hiện thực khách quan”.
Trong dạy học, theo Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn là không nên đi theo con
đường sao chép lí luận ở đâu đó rồi nhồi cho người học, vì học như vậy là kiểu
học sách vở. Nên theo con đường có một lí luận hướng dẫn ban đầu rồi bắt tay
hoạt động thực tiễn, dùng thực tiễn này mà củng có lí luận, kế thừa có phê phán
lí luận của người khác, rồi lại hoạt động thực tiễn, cứ thế theo mối quan hệ qua
lại giữa lí luận và thực tiễn mà đi lên.
Ví dụ [5, tr. 40]:
Khi dạy về “Số thực dương, số thực âm” để cho học sinh dễ dàng tiếp thu
ta có thể đề cập sự liên hệ: “Một người A nào đó suy cho cùng, hoặc là không
có tiền (A không có đồng tiền nào cả) hoặc có tiền (A có một số tiền nào đó)
hoặc đang nợ tiền. Và như vậy ta có thể gán số 0 với trường hợp A không có
tiền, số dương với trường hợp A có tiền và số âm với trường hợp A đang nợ
tiền. Lúc này thì học sinh sẽ dễ dàng tiếp nhận tính chất “Nếu a

> 0, b > 0 thì a
+ b > 0″, “Phủ định của mệnh đề “a > 0” là mệnh đề “a

0″”.
Với tính chất “
a b
a c
b c

>

⇒ >

>

” ta có thể liên hệ như sau:
18
“Bạn A có số tiền lớn hơn bạn B và bạn B lại có số tiền lớn hơn bạn C” thì
bằng thực tế, học sinh dễ dàng nói được một cách chắc chắn rằng bạn A có số
tiền lớn hơn bạn C.
Một tính chất khá quan trọng và có nhiều ứng dụng đó là:


0cnÕubcac
0cnÕubcac
ba



<<
>>
⇔>
Có thể minh họa để học sinh dễ hiểu, dễ nhớ như sau:
Gọi a, b lần lượt là số người của 2 nhóm A và B.
a > b: số người nhóm A lớn hơn số người nhóm B.
Như vậy:
Nếu nhân số người mỗi nhóm với một số tiền nào đó thì số tiền nhóm A
thu được lớn hơn số tiền nhóm B.
Nếu nhân số người mỗi nhóm với một số tiền nợ nào đó thì số tiền nhóm

A nợ sẽ nhiều hơn số tiền nhóm B nợ.
Sau khi có sự liên hệ trên, ta cho học sinh Quy tắc:
Nếu nhân hai vế của một bất đẳng thức với cùng một số dương, ta được
một bất đẳng thức cùng chiều và tương đương.
Nếu nhân hai vế của một bất đẳng thức với cùng một số âm, ta được một
bất đẳng thức trái chiều và tương đương.
Rõ ràng sự liên hệ trên sẽ giúp học sinh dễ hiểu, dễ nhớ và tránh được
cách dạy học “sao chép lí luận ở đâu đó rồi nhồi cho người học” như GS.
Nguyễn Cảnh Toàn đã đề cập. Đặc biệt rèn luyện cho học sinh thói quen liên
tưởng, kiểm nghiệm tính đúng đắn của các kiến thức mỗi khi sử dụng. Nhờ
19
d
vậy, những phẩm chất, tính cách của người lao động mới như tính cẩn thận,
chính xác cũng được hình thành và hoàn thiện.
1.3.1.3. Tăng cường liên hệ với thực tiễn góp phần rèn luyện và phát triển
các năng lực trí tuệ
Môn Toán có tiềm năng rất lớn trong việc góp phần phát triển năng lực trí
tuệ chung cho học sinh như tư duy trừu tượng, tư duy lôgic, tư duy biện chứng,
rèn luyện các trí tuệ cơ bản như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa…,
các phẩm chất tư duy như linh hoạt, độc lập, sáng tạo… Chính trong quá trình
dạy học theo hướng tăng cường liên hệ với thực tiễn mà các năng lực trí tuệ
này được hình thành và phát triển.
– Các hoạt động trí tuệ cơ bản: việc tăng cường liên hệ với thực tiễn
trong dạy học môn Toán đòi hỏi học sinh phải thường xuyên thực hiện những
hoạt động trí tuệ cơ bản như phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát
hóa, tương tự hóa, so sánh,… nên có tác dụng rất lớn trong việc rèn luyện cho
học sinh những hoạt động trí tuệ này. Trong đó phân tích và tổng hợp là hai
hoạt động trí tuệ cơ bản của quá trình tư duy, làm nền tảng cho các hoạt động
trí tuệ khác; là hai hoạt động trái ngược nhau nhưng lại là hai mặt của một
quá trình thống nhất.

– Hình thành những phẩm chất trí tuệ như tính linh hoạt, tính độc lập, tính
sáng tạo. Việc rèn luyện cho học sinh những phẩm chất trí tuệ này có ý nghĩa
to lớn đối với việc học tập, công tác và trong cuộc sống.
∗ Tính linh hoạt: thể hiện ở khả năng phát hiện, chuyển hướng nhanh quá
trình tư duy nhằm ứng dụng kiến thức Toán học để giải quyết thành công một
vấn đề.
∗ Tính độc lập: thể hiện ở khả năng tự mình phát hiện vấn đề, tự mình xác
định phương hướng và lựa chọn kiến thức để ứng dụng giải quyết một bài toán
20
đặt ra trong thực tiễn, tự mình kiểm tra lại và đánh giá kết quả. Tính độc lập có
liên hệ mật thiết với tính phê phán của tư duy.
∗ Tính sáng tạo: hai phẩm chất trí tuệ nói trên là những điều cần thiết,
những đặc điểm về những mặt khác nhau của tư duy sáng tạo. Tính sáng tạo
của tư duy được thể hiện rõ nét ở việc biết vận dụng linh hoạt các kiến thức
Toán đã được học ở trường để giải quyết các vấn đề đặt ra trong thực tiễn.
– Phát triển khả năng suy đoán và tưởng tượng: việc liên hệ với thực tiễn
sẽ rèn luyện cho học sinh khả năng hình dung những đối tượng Toán học có
trong cuộc sống và làm việc với chúng dựa trên những dữ liệu bằng lời.
Đồng thời tạo cho học sinh ý thức sử dụng những quy tắc suy đoán như xét tương
tự, khái quát hóa, quy lạ về quen… trên nền tảng tri thức và kinh nghiệm nhất định.
– Khả năng tư duy lôgic và sử dụng ngôn ngữ chính xác cũng được phát
triển trong hoạt động giải toán cực trị, hoặc trong vận dụng Toán học vào các
bộ môn khác.
1.3.1.4. Tăng cường liên hệ với thực tiễn nhằm giáo dục lòng yêu nước,
yêu chủ nghĩa xã hội
Cũng như các bộ môn khác, quá trình dạy học Toán phải là một quá trình
thống nhất giữa dạy chữ và dạy người. Muốn vậy cần khai thác tiềm năng đặc
thù của môn Toán so với các môn học khác để đóng góp vào việc thực hiện
mục tiêu này.
Trong quá trình dạy Toán giáo viên cần tranh thủ đưa ra những số liệu về

công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vào những đề toán trong trường hợp có
thể. Chẳng hạn những bài toán có nội dung thực tế giải bằng cách lập phương
trình hoặc hệ phương trình.
Cũng có thể khai thác một số sự kiện về lịch sử Toán học có liên quan tới
truyền thống dân tộc. Chẳng hạn, trong dân gian có lưu truyền quy tắc tính gần
21
đúng số
π
: “Quân bát, phát tam, tồn ngũ, quân nhị”, tức là “chia (chu vi) làm 8
phần, bỏ đi 3 phần, còn lại 5 phần, chia đôi”. Theo quy tắc này, tỉ số của đường
kính và chu vi đường trong bằng
5
16
, do đó
16
3,2
5
π = =
.
1.3.1.5. Tăng cường liên hệ với thực tiễn nhằm giúp học sinh nắm vững
kiến thức cơ bản. Đồng thời phát hiện, phát triển và bồi dưỡng năng lực ứng
dụng toán học của học sinh, góp phần tạo cơ sở để học sinh học tiếp hoặc đi
vào cuộc sống lao động
Tính trừu tượng là một đặc điểm rõ nét của môn Giải tích. Do vậy, so với
các vấn đề khác của toán học, học sinh thường gặp nhiều khó khăn, chướng
ngại hơn trong việc tiếp thu các vấn đề Giải tích. Để làm giảm bớt sự trừu
tượng và tạo niềm vui, hứng thú cho học sinh trong quá trình học tập, giáo
viên nên quan tâm đến việc liên hệ với thực tiễn. Xem việc tăng cường liên hệ
với thực tiễn như là phương tiện để truyền thụ tri thức, rèn luyện kỹ năng, bồi
dưỡng ý thức và năng lực ứng dụng Toán học.

Thế giới đã bước vào kỷ nguyên kinh tế tri thức và toàn cầu hóa. với sự
phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ. Giáo dục, với chức năng chuẩn bị
lực lượng lao động cho xã hội, chắc chắn phải có những sự chuyển biến to lớn,
tương ứng với tình hình. Hội đồng quốc tế về Giáo dục cho thế kỷ 21 được
UNESCO thành lập 1993 do Jacques Delors lãnh đạo, nhằm hỗ trợ các nước
trong việc tìm tòi cách thức tốt nhất để kiến tạo lại nền giáo dục của mình vì sự
phát triển bền vững của con người. Năm 1996, Hội đồng đã xuất bản ấn phẩm
Học tập: một kho báu tiềm ẩn, trong đó có xác định “Học tập suốt đời” được dựa
trên bốn “trụ cột” là: Học để biết; Học để làm; Học để chung sống với nhau; Học
để làm người. “Học để làm” được coi là “không chỉ liên quan đến việc nắm được
những kỹ năng mà còn đến việc ứng dụng kiến thức”, “Học để làm nhằm làm
cho người học nắm được không những một nghề nghiệp mà con có khả năng
22
đối mặt được với nhiều tình huống và biết làm việc đồng đội” (dẫn theo [44, tr.
29 – 30]).
ở trường phổ thông nước ta trong giai đoạn hiện nay, mục tiêu chủ yếu
của việc giảng dạy Toán là hình thành và rèn luyện năng lực ứng dụng. Theo
Ngô Hữu Dũng: ứng dụng Toán học vào thực tế là một trong những năng lực
toán học cơ bản, cần phải rèn luyện cho học sinh [9, tr. 13 – 16]. Đành rằng, đây
không phải là yêu cầu chỉ của riêng môn Toán, nhưng vì vai trò và vị trí quan
trọng của nó – là “chìa khóa” của sự phát triển đối với nhiều ngành khoa học,
công nghệ, của các ngành kinh tế quốc dân… Do đó, mục tiêu này được nhấn
mạnh trong giảng dạy Toán. Việc tăng cường liên hệ với thực tiễn sẽ phát hiện,
phát triển và bồi dưỡng năng lực ứng dụng toán học cho học sinh. Vấn đề này
cần được đặc biệt quan tâm ở cấp trung học phổ thông, bởi vì họ đang ở giai
đoạn chuẩn bị tham gia trực tiếp vào quá trình lao động, sản xuất của xã hội,
hoặc tham gia vào các quá trình đào tạo có tính chuyên môn hóa cao hơn. Rõ
ràng đây là một trong những yếu tố góp phần thể hiện những quan điểm trên của
UNESCO, góp phần thực hiện “học để làm” trong dạy học Toán ở trường phổ
thông nước ta hiện nay. Muốn vậy, không thể bằng cách nào tốt hơn là sự quan

tâm thích đáng của giáo viên đến việc liên hệ với thực tiễn trong quá trình dạy
học. Trong đó, đặc biệt chú ý luyện tập các ứng dụng để giải quyết các bài toán
trong thực tế với mức độ và phương pháp thích hợp.
1.3.2. Tăng cường liên hệ với thực tiễn nhằm thực hiện nguyên tắc dạy
học vận dụng vào môn Toán
Theo [19, tr. 76], hai tác giả Hà Thế Ngữ – Đặng Vũ Hoạt đã đưa ra 6
nguyên tắc dạy học. Việc tăng cường liên hệ với thực tiễn trong quá trình dạy
học toán là thực hiện nguyên tắc “đảm bảo sự thống nhất giữa lí luận và thực
tiễn”. Để thực hiện nguyên tắc này, [16, tr. 149 – 150] đưa ra các chú ý:
23
– Đảm bảo cho học sinh nắm vững kiến thức toán học để có thể vận dụng
đúng vào thực tiễn.
– Chú trọng nêu các ứng dụng của toán học vào trong thực tiễn.
– Chú trọng đến các kiến thức toán học có nhiều ứng dụng trong thực tiễn.
– Chú trọng rèn luyện cho học sinh có những kĩ năng toán học vững chắc.
– Chú trọng công tác thực hành toán học trong nội khóa cũng như ngoại khóa.
Thực hiện các chú ý nêu trên đồng thời cũng là thực hiện tăng cường rèn
luyện ý thức và kĩ năng vận dụng toán vào thực tiễn cho học sinh.
1.3.3. Tăng cường liên hệ với thực tiễn góp phần hoàn thiện hoạt động
gợi động cơ và hoạt động củng cố
Trong quá trình dạy học bộ môn Toán, gợi động cơ là một trong những
khâu quan trọng nhằm kích thích hứng thú học tập cho học sinh, làm cho việc
học tập trở nên tự giác, tích cực, chủ động. Do vậy, để học sinh tiếp thu tốt cần
phải tiến hành các hoạt động gợi động cơ (gợi động cơ mở đầu, gợi động cơ
trung gian, gợi động cơ kết thúc). ở các lớp dưới, hình thức gợi động cơ mà các
giáo viên thường sử dụng như cho điểm, khen chê, thông báo kết quả học tập
cho gia đình, Tuy nhiên, càng lên lớp cao, cùng với sự trưởng thành của
học sinh, với trình độ nhận thức và giác ngộ chính trị ngày càng được nâng cao,
thì những cách gợi động cơ xuất phát từ nội dung hướng vào những nhu cầu
nhận thức, nhu cầu của đời sống, trách nhiệm đối với xã hội, ngày càng trở

nên quan trọng. Với gợi động cơ mở đầu và gợi động cơ kết thúc trong nhiều
trường hợp có thể xuất phát từ một tình huống thực tiễn nào đó (từ đời sống
hoặc từ nội bộ Toán học). Thực tế cho thấy, gợi động cơ theo cách này kích
thích được hứng thú học tập cho học sinh. Đối với hoạt động củng cố kiến thức
cũng có thể dùng hình thức liên hệ với thực tiễn mà cụ thể có thể cho học sinh
ứng dụng kiến thức vừa học vào giải quyết một bài toán nào đó.
24
1.3.4. Tăng cường liên hệ với thực tiễn góp phần rèn luyện một số
thành tố trong cấu trúc năng lực toán học của học sinh
Theo V. A. Cruchetxki: ”Năng lực Toán học được hiểu là những đặc điểm
tâm lí cá nhân (trước hết là những đặc điểm hoạt động trí tuệ) đáp ứng những
yêu cầu của hoạt động học tập Toán học, và trong những điều kiện vững chắc
như nhau thì là nguyên nhân của sự thành công trong việc nắm vững một cách
sáng tạo toán học với tư cách là một môn học, đặc biệt nắm vững tương đối
nhanh, dễ dàng, sâu sắc những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trong lĩnh vực Toán
học” (dẫn theo [16]).
Dựa theo quan điểm của Lý thuyết thông tin, V. A. Krutecxki cho rằng
Cấu trúc năng lực toán học bao gồm những thành tố sau:
1) Về mặt thu nhận thông tin toán học
Đó là năng lực tri giác hình thức hoá tài liệu Toán học, năng lực nắm cấu
trúc hình thức của bài toán.
2) Về mặt chế biến thông tin toán học
– Năng lực tư duy lôgic trong lĩnh vực các quan hệ số lượng và không
gian, hệ thống ký hiệu số và dấu. Năng lực tư duy bằng các ký hiệu toán học.
– Năng lực khái quát hóa nhanh và rộng các đối tượng, quan hệ toán học
và các phép toán.
– Năng lực rút gọn quá trình suy luận toán học và hệ thống các phép toán
tương ứng. Năng lực tư duy bằng các cấu trúc rút gọn.
– Tính linh hoạt của quá trình tư duy trong hoạt động toán học.
– Khuynh hướng vươn tới tính rõ ràng đơn giản, tiết kiệm, hợp lý của lời giải.

25
trường phối hợp với giáo dục mái ấm gia đình và giáo dục xã hội ‘ ‘. Chương 2, mục 2, điều27 và 28 xác lập rằng : ” Giáo dục đào tạo trung học phổ thông nhằm mục đích giúp học viên, có điều kiện kèm theo phát huy năng lượng cá thể để lựa chọn hướng tăng trưởng, tiếp tụchọc ĐH, cao đẳng, tầm trung, học nghề hoặc đi vào đời sống lao động ‘ ‘. ” Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, dữ thế chủ động, phát minh sáng tạo của học viên ; tương thích với đặc thù của từng lớp học, môn học ; bồidưỡng chiêu thức tự học, năng lực thao tác theo nhóm ; rèn luyện kĩ năngvận dụng kỹ năng và kiến thức vào thực tiễn ; ảnh hưởng tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học viên “. 1.3. Toán học có nguồn gốc thực tiễn và là ” chìa khoá ” trong hầu hết cáchoạt động của con người. Nó xuất hiện ở khắp nơi. Toán học là hiệu quả của sự trừutượng hoá những sự vật hiện tượng kỳ lạ trong thực tiễn trên những bình diện khác nhauvà có vai trò rất quan trọng trong việc triển khai tiềm năng chung của giáo dục phổthông. Mặc dù là ngành khoa học có tính trừu tượng cao nhưng Toán học có mốiliên hệ ngặt nghèo với thực tiễn và hoàn toàn có thể ứng dụng thoáng rộng trong nhiều lĩnh vựckhác nhau : là công cụ để học tập những môn học trong nhà trường, nghiên cứunhiều ngành khoa học và là công cụ để hoạt động giải trí trong sản xuất và đời sống thựctế. Trong thư gửi những bạn trẻ yêu toán, thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhấn mạnh vấn đề : ” Dù những bạn Giao hàng ở nghành nào, trong công tác làm việc nào, thì những kỹ năng và kiến thức vàphương pháp toán cũng cần cho những bạn ” [ 7, tr. 14 ]. ‘ ‘ Toán học có vai trò quantrọng trong khoa học công nghệ tiên tiến cũng như trong đời sống ‘ ‘ [ 19, tr. 50 ]. 1.4. Mặc dù vậy, do nhiều lí do khác nhau mà SGK Toán phổ thông nóichung, sách Đại số và Giải tích 11 ; Giải tích 12 ( chỉnh lí hợp nhất năm 2000 ) nói riêng, chưa thực sự chăm sóc đúng mức, tiếp tục tới việc làm rõ mốiliên hệ với thực tiễn ngoài Toán học, nhằm mục đích tu dưỡng cho học viên ý thức vànăng lực vận dụng những hiểu biết Toán học vào việc học tập những môn họckhác, xử lý nhiều trường hợp đặt ra trong đời sống lao động sản xuất. Bên cạnh đó, tình hình dạy học Toán ở trường phổ thông cho thấy rằng, đa phần giáo viên chỉ chăm sóc tới việc truyền thụ lí thuyết, thiếu thực hành thực tế vàliên hệ kiến thức và kỹ năng với thực tiễn. Học sinh ‘ ‘ đang học Toán chỉ số lượng giới hạn trongphạm vi bốn bức tường của lớp học, thành thử không chú ý đến những tươngquan Toán học quen thuộc trong quốc tế những sự vật hiện tượng kỳ lạ xung quanh, không biết ứng dụng những kỹ năng và kiến thức Toán học đã thu nhận được vào thựctiễn ‘ ‘ [ 33, tr. 5 ]. Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn thì coi đây là kiểu ‘ ‘ Dạy và họctoán tách rời đời sống đời thường ‘ ‘. 1.5. Định hướng thay đổi chiêu thức dạy học và nội dung sách giáo khoacủa Bộ giáo dục và Đào tạo đã xác lập rõ : Cần dạy học theo cách sao cho họcsinh hoàn toàn có thể nắm vững tri thức, kỉ năng và chuẩn bị sẵn sàng vận dụng vào thực tiễn. Tạo cơsở để học viên học tiếp hoặc đi vào đời sống lao động. Sách giáo khoa cần chú ýnêu rõ ý nghĩa và ứng dụng của những kiến thức và kỹ năng, quan tâm mối quan hệ liên môn. Gần đây đã có 1 số ít khu công trình điều tra và nghiên cứu tương quan đến yếu tố này, trong đó phải kể đến : – Nguyễn Ngọc Anh ( 2000 ), ứng dụng phép tính vi phân ( Phần đạo hàm ) đểgiải những bài tập cực trị có nội dung liên môn và thực tiễn trong dạy học toán 12 trung học phổ thông, Luận án Tiến sỹ Giáo dục học, Viện khoa học giáo dục, TP.HN. – Nguyễn Văn Bảo ( 2005 ), Góp phần rèn luyện cho học viên năng lượng vậndụng kỹ năng và kiến thức Toán học để xử lý một số ít bài toán có nội dung thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học, trường Đại học Vinh. – Bùi Huy Ngọc ( 2003 ), Tăng cường khai thác nội dung trong thực tiễn trongdạy học Số học và Đại số nhằm mục đích nâng cao năng lượng vận dụng Toán học vàothực tiễn cho học viên Trung học cơ sở, Luận án Tiến sỹ Giáo dục học, Trường Đại học Vinh, Vinh. Luận văn này trên cơ sở thừa kế, tăng trưởng và cụ thể hoá những kết quảnghiên cứu của những tác giả đi trước, nhằm mục đích tìm hiểu và khám phá để làm sáng tỏ thêm việc tăngcường liên hệ những kiến thức và kỹ năng Giải tích ở trường Trung học phổ thông với thực tiễn. Vì những lí do trên đây, chúng tôi chọn đề tài điều tra và nghiên cứu của Luận văn là : ” Tăng cường liên hệ với thực tiễn trong quy trình dạy học 1 số ít chủ đềGiải tích ở trường trung học phổ thông “. II. Mục đích nghiên cứuMục đích của Luận văn là khám phá mối liên hệ của một số ít kiến thức và kỹ năng Giảitích trong chương trình Toán phổ thông với thực tiễn và vận dụng vào đổi mớiPhương pháp dạy học, nhằm mục đích góp thêm phần nâng cao chất lượng giáo dục Toán họccho học viên Trung học phổ thông. III. Nhiệm vụ nghiên cứu3. 1. Tổng hợp những quan điểm của những nhà khoa học tương quan đến vấn đềtăng cường liên hệ với thực tiễn trong dạy Toán nói chung và dạy học Giảitích nói riêng. 3.2. Nghiên cứu kĩ nội dung những SGK Đại số và Giải tích 11 ; Giải tích 12 hiện hành và những tài liệu tìm hiểu thêm có tương quan để làm rõ những nội dung cómối liên hệ ngặt nghèo với thực tiễn. 3.3. Tìm hiểu tình hình và nguyên do của việc dạy và học môn Giảitích ở trường Trung học phổ thông theo hướng điều tra và nghiên cứu của đề tài. 3.4. Xây dựng một số ít giải pháp tăng cường liên hệ với thực tiễn trong quátrình dạy học Giải tích lớp 11 và 12 nhằm mục đích góp thêm phần nâng cao hiệu suất cao dạy học. 3.5. Tiến hành tổ chức triển khai thực nghiệm sư phạm để nhìn nhận tính khả thi củamột số giải pháp dạy học môn Giải tích nhằm mục đích kiểm soát và điều chỉnh và rút ra Kết luận. IV. Giả thuyết khoa họcGiả thuyết khoa học của đề tài là : trên cơ sở tôn trọng sách giáo khoa hiệnhành, nếu giáo viên chú ý quan tâm đến việc tăng cường liên hệ với thực tiễn trong quátrình dạy học thì sẽ góp thêm phần nâng cao chất lượng học tập môn Giải tích ở nhàtrường phổ thông và góp thêm phần đào tạo và giảng dạy những người lao động cung ứng yêu cầucủa quốc gia trong quy trình tiến độ hội nhập lúc bấy giờ. V. Phương pháp nghiên cứu5. 1. Nghiên cứu lí luận : Tìm hiểu, điều tra và nghiên cứu những tài liệu toán học ; giải pháp dạy học môn Toán và những tài liệu khác tương quan đến đề tài. 5.2. Quan sát : Quan sát tình hình dạy và học môn Toán nói chung vàphân môn Giải tích nói riêng ở trường phổ thông ở 1 số ít địa phương. 5.3. Thực nghiệm sư phạm : Tổ chức thực nghiệm sư phạm để xem xéttính khả thi và hiệu suất cao của việc tăng cường liên hệ với thực tiễn trong dạy họcGiải tích ở trường phổ thông. VI. Những góp phần của luận văn6. 1. Góp phần làm rõ tầm quan trọng của việc rèn luyện cho học viên ýthức tăng cường liên hệ với thực tiễn trong quy trình dạy học. 6.2. Làm rõ sự phản ánh thực tiễn, nguồn gốc thực tiễn và những ứng dụngtrong thực tiễn của 1 số ít yếu tố Giải tích. 6.3. Đề xuất một số ít quan điểm cơ bản nhằm mục đích làm cơ sở đưa ra 1 số ít biệnpháp tăng cường liên hệ với thực tiễn trong quy trình dạy học Giải tích. 6.4. Luận văn hoàn toàn có thể dùng làm tài liệu tìm hiểu thêm cho sinh viên ngành Sưphạm Toán và giáo viên Toán ở trường Trung học phổ thông. VII. Cấu trúc luận vănMở đầuI. Lí do chọn đề tàiII. Mục đích nghiên cứuIII. Nhiệm vụ nghiên cứuIV. Giả thuyết khoa họcV. Phương pháp nghiên cứuVI. Đóng góp của Luận vănChương 1 : Một số yếu tố cơ sở lí luận và thực tiễn1. 1. Về phạm trù thực tiễn1. 2. Nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn trong dạy học Toán1. 3. Mục đích của việc tăng cường liên hệ với thực tiễn trong quá trìnhdạy học Toán ở trường Trung học phổ thông1. 4. Cơ sở thực tiễn1. 5. Kết luận chương 1C hương 2 : Dạy học môn Giải tích ở trường phổ thông theo hướngtăng cường liên hệ với thực tiễn2. 1. Sơ lược về lịch sử vẻ vang hình thành và tăng trưởng của 1 số ít yếu tố Giải tích2. 2. Tiềm năng của một số ít chủ đề Giải tích trong việc rèn luyện cho họcsinh năng lượng liên hệ với thực tiễn2. 3. Một số biện pháp sư phạm nhằm mục đích tăng cường liên hệ với thực tiễntrong quy trình dạy học Giải tích2. 4. Kết luận chương 2C hương 3 : Thực nghiệm sư phạm3. 1. Mục đích thực nghiệm3. 2. Tổ chức thực nghiệm3. 3. Nội dung thực nghiệm3. 4. Phân tích hiệu quả thực nghiệm3. 5. Kết luận chung về thực nghiệmKết luậnTài liệu tham khảoChương 1M ột số yếu tố Cơ sở lí luận và thực tiễnTrong chương này chúng tôi sẽ trình diễn ngắn gọn 1 số ít lí luận và hoạtđộng thực tiễn tương quan đến yếu tố ” Tăng cường liên hệ với thực tiễn trongdạy học Toán ” nhằm mục đích Giao hàng cho việc điều tra và nghiên cứu chương 2. Cụ thể sẽ làm rõ : • Triết học quan niệm về thực tiễn như thế nào ? • Nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn và việc vận dụng vàoquá trình dạy học Toán. • Tại sao phải tăng cường liên hệ với thực tiễn trong dạy học Toán ? • Làm rõ tình hình dạy học và nội dung những SGK theo hướng nghiên cứucủa đề tài. 1.1. Về phạm trù thực tiễn1. 1.1. Thuật ngữ thực tiễn trong 1 số ít tài liệu ngôn từ khoa họcTheo Từ điển Tiếng Việt : ‘ Thực tiễn ‘ ‘ là ‘ ‘ những hoạt động giải trí của conngười, trước hết là lao động sản xuất, nhằm mục đích tạo ra những điều kiện kèm theo cần thiếtcho sự sống sót của xã hội ( nói tổng quát ) ‘ ‘ [ 56, tr. 974 ]. Còn Từ điển học sinh thì định nghĩa : ” Thực tiễn ” là ” hàng loạt những hoạtđộng của con người để tạo ra những điều kiện kèm theo thiết yếu cho đời sống xã hội baogồm những hoạt động giải trí sản xuất, đấu tranh giai cấp và thực nghiệm khoa học : không có thực tiễn thì không có lí luận khoa học ” [ 31, tr. 575 ]. 1.1.2. Phạm trù thực tiễn trong Triết họcPhạm trù thực tiễn đã được Lútvích Phoiơbắc – nhà duy vật lớn nhất trướcMác đề cập đến. Song ông không nhận thức được ‘ ‘ hoạt động giải trí cảm xúc của conngười là thực tiễn ‘ ‘ nên còn quá coi trọng hoạt động giải trí lí luận và chưa thấy hếtđược vai trò, ý nghĩa của thực tiễn so với nhận thức của con người. Các nhà duy tâm cũng chỉ hiểu thực tiễn như thể hoạt động giải trí ý thức chứkhông hiểu nó như thể hoạt động giải trí hiện thực, hoạt động vật chất cảm tính của conngười. Ngay cả Hêghen – nhà triết học duy tâm lớn nhất trước Mác, mặc dầu đãcó những tư tưởng phải chăng thâm thúy ( bằng thực tiễn, chủ thể tự ‘ ‘ nhân đôi ‘ ‘ mình, đốitượng hoá bản thân mình trong quan hệ với quốc tế bên ngoài [ 52, tr. 53 ] ) nhưng cũng chỉ số lượng giới hạn thực tiễn ở ý niệm, ông cho rằng thực tiễn là một ‘ ‘ suylí lôgíc ‘ ‘. Kế thừa những yếu tố hợp lý, chỉ rõ và khắc phục những thiết sót trongquan điểm của những nhà triết học đi trước. Mác và ăngghen đã đem lại một quanniệm đúng đắn, khoa học về thực tiễn : ‘ ‘ Thực tiễn là những hoạt động vật chất ‘ ‘ cảm tính ‘ ‘, có mục tiêu, có tính lịch sử dân tộc xã hội của con người, nhằm mục đích tái tạo tựnhiên và xã hội ‘ ‘ [ 52, tr. 54 ]. Như vậy, thực tiễn không phải gồm có hàng loạt hoạt động giải trí của con ngườimà chỉ là những hoạt động vật chất – hoạt động giải trí đặc trưng, có mục tiêu, có ýthức, năng động, phát minh sáng tạo. Hoạt động này có sự biến hóa qua những quy trình tiến độ lịchsử khác nhau và được triển khai bởi phần đông quần chúng nhân dân trong xãhội. Con người sử dụng những phương tiện đi lại, công cụ vật chất, sức mạnh vật chấtcủa mình ảnh hưởng tác động vào tự nhiên, xã hội để làm biến hóa chúng trong hiện thựccho tương thích với nhu yếu của mình và làm cơ sở để đổi khác hình ảnh sự vậttrong nhận thức. ‘ ‘ Thực tiễn trở thành mắt khâu trung gian tiếp nối ý thức conngười với quốc tế bên ngoài ‘ ‘ [ 52, tr. 55 ]. Con người và xã hội loài người sẽkhông thể sống sót và tăng trưởng được nếu không có hoạt động giải trí thực tiễn ( màdạng cơ bản tiên phong và nguyên thuỷ nhất là hoạt động giải trí sản xuất vật chất ). ‘ ‘ Thực tiễn là phương pháp sống sót cơ bản của con người và xã hội, là phươngthức tiên phong và hầu hết của mối quan hệ giữa con người với quốc tế ‘ ‘ [ 52, tr. 55 ]. 1.2. Nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn trong dạy học Toán1. 2.1. Nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễnGiữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác độngqua lại lẫn nhau. Việc không cho mối quan hệ này có ý nghĩa quan trọng trongnhận thức khoa học và hoạt động giải trí thực tiễn cách mạng. Con người quan hệ vớithế giới mở màn từ thực tiễn. Lý luận là mạng lưới hệ thống mẫu sản phẩm tri thức được kháiquát từ thực tiễn nhờ sự tăng trưởng cao của nhận thức. Thực tiễn là cơ sở, mục tiêu và động lực đa phần của nhận thức, lý luận. Thực tiễn cung ứng tài liệu cho nhận thức, không có thực tiễn thì không cónhận thức. Mọi tri thức khoa học dù trực tiếp hay gián tiếp thì xét đến cùng đềubắt nguồn từ thực tiễn. Nhận thức, lý luận sau khi sinh ra phải quay về phục vụthực tiễn, hướng dẫn và chỉ huy thực tiễn. trái lại, thực tiễn là công cụ xácnhận, kiểm nghiệm tri trức thu được là đúng hay sai, chân lý hay sai lầm đáng tiếc vànghiêm khắc chứng tỏ chân lý, bác bỏ sai lầm đáng tiếc – ” Thực tiễn là tiêu chuẩn củachân lý “. Cần coi trọng thực tiễn. Việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu đi sát thực tiễn, nghiên cứu và điều tra lý luận phải liên hệvới thực tiễn, ” học song song với hành “. Tuy nhiên không có nghĩa là coi nhẹ, xarời lý luận. quản trị Hồ Chí Minh đã viết : ” Thống nhất giữa lí luận và thực tiễnlà một nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Thực tiễn không có líluận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lí luận mà không liên hệ vớithực tiễn là lí luận suông ” [ 52, tr. 66 ]. 1.2.2. Một số quan điểm về yếu tố liên hệ với thực tiễn trong dạy họcTrong nghành Giáo dục và Đào tạo, quản trị Hồ Chí Minh là người cóquan điểm và hành vi kế hoạch vượt tầm thời đại. Về mục tiêu việc họcBác xác lập rõ : Học để giúp dân cứu nước ; học để thao tác. Còn về phươngpháp học tập ( là một nội dung của mục tiêu học ) Người xác lập : Học phải gắnliền với hành ; học tập suốt đời ; học ở mọi nơi, mọi lúc, mọi người. Quan điểmnày được Người nhấn mạnh vấn đề : ” Học để hành : Học với hành phải đi đôi. Học màkhông hành thì vô ích. Hành mà không học thì không trôi chảy ” [ 37, tr. 2-3-5 ]. 10 Đồng chí Trường Chinh cũng đã nêu : ” dạy tốt là khi giảng bài phải liên hệvới thực tiễn, làm cho học viên dễ hiểu, dễ nhớ và hoàn toàn có thể vận dụng điều mình đãhọc vào công tác làm việc thực tiễn được “. Còn theo Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, trong dạy học không nên đi theocon đường sao chép lí luận ở đâu đó rồi nhồi cho người học, vì học như vậy làkiểu học sách vở. Nên theo con đường có một lí luận hướng dẫn bắt đầu rồibắt tay hoạt động giải trí thực tiễn, dùng thực tiễn này mà củng cố lí luận, kế thừacó phê phán lí luận của người khác, rồi lại hoạt động giải trí thực tiễn, cứ thế theo mốiquan hệ qua lại giữa lí luận và thực tiễn mà đi lên. 1.2.3. Nguyên lý giáo dục và khuynh hướng tăng cường liên hệ với thựctiễn trong dạy học môn Toán1. 2.2.1. Nguyên lý giáo dụcLuật Giáo dục đào tạo nước ta ( năm 2005 ) xác lập : ‘ ‘ Hoạt động giáo dục phảiđược triển khai theo nguyên tắc học song song với hành, giáo dục phối hợp với laođộng sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường tích hợp vớigiáo dục mái ấm gia đình và giáo dục xã hội ‘ ‘. 1.2.2. 2. Định hướng tăng cường liên hệ với thực tiễn trong dạy học môn ToánToán học là môn học có tính trừu tượng cao. Tuy nhiên, Toán học cónguồn gốc thực tiễn nên tính trừu tượng chỉ che lấp chứ không hề làm mất đitính thực tiễn của nó. Với vai trò là môn học công cụ nên những tri thức, kĩ năngvà chiêu thức thao tác của môn Toán được sử dụng cho việc học tập cácmôn học khác trong nhà trường, trong nhiều ngành khoa học khác nhau vàtrong đời sống trong thực tiễn. Chẳng hạn, trong Vật lí tất cả chúng ta gặp mối liên hệ giữaquảng đường đi được s và thời hạn t trong một hoạt động đều bộc lộ bởi : s = vt, mối liên hệ giữa hiệu điện thế U và cường độ dòng điện I khi điện trở Rkhông đổi bộc lộ bởi : U = I.R ; trong Hình học tất cả chúng ta gặp mối liên hệ giữa11chu vi C và nửa đường kính R của đường tròn biểu lộ bởi : C = 2R ; trong Hóa họcchúng ta gặp mối liên hệ giữa phân tử gam M của một chất khí với tỉ khối dcủa chất khí đó so với không khí biểu lộ bởi : M = 29 d ; mối quan hệ giữa giátiền p với chiều dài n của tấm vải bộc lộ bởi : p = a. n ; … Bằng cách trừu tượnghóa, gạt ra một bên những đại lượng đơn cử và chỉ quan tâm tới quan hệ của những đạilượng đó, tất cả chúng ta có hàm số y = a. x. Do vậy, hoàn toàn có thể nói rằng, môn Toán có nhiều tiềm năng liên hệ với thựctiễn trong dạy học. Theo [ 19, tr. 71 ] thì liên hệ với thực tiễn trong quy trình dạyhọc Toán là một trong ba phương hướng thực thi Nguyên lí giáo dục nói trên. Cụ thể là cần liên hệ với thực tiễn qua những mặt sau : 1 ) Nguồn gốc thực tiễn của Toán học : số tự nhiên sinh ra do nhu yếu đếm, hình học Open do nhu yếu đo đạc lại ruộng đất sau những trận lụt bên bờsông Nil ( Ai cập ), … 2 ) Sự phản ánh thực tiễn của Toán học : khái niệm véctơ phản ánh nhữngđại lượng đặc trưng không phải chỉ bởi số đo mà còn bởi hướng, ví dụ điển hình vậntốc, lực, … khái niệm đồng dạng phản ánh những hình đồng dạng nhưng khácnhau về độ lớn … trong Toán học có chứng tỏ thuận, chứng tỏ hòn đảo thìtrong đời sống ta thường khuyên nhau : ” nghĩ đi rồi phải nghĩ lại “, ” có qua cólại “, ” sống phải có trước có sau “, … 3 ) Các ứng dụng thực tiễn của Toán học : ứng dụng lượng giác để đokhoảng cách không tới được, đạo hàm được ứng dụng để tính tốc độ tức thời, tích phân được ứng dụng để tính diện tích quy hoạnh, thể tích … Muốn vậy, cần quan tâmtăng cường cho học viên tiếp cận với những bài toán có nội dung thực tiễntrong khi học lí thuyết cũng như làm bài tập. 12 – Trong nội bộ môn Toán, cần cho học viên làm toán có nội dung thực tiễnnhư giải bài toán bằng cách lập phương trình, bài toán cực trị, đo khoảng chừng cáchkhông tới được … – Cần cho học viên vận dụng những tri thức và giải pháp Toán học vàonhững môn học trong nhà trường, chẳng hạn vận dụng véctơ để biểu thị lực, tốc độ, tần suất, vận dụng đạo hàm để tính tốc độ tức thời trong Vật lí, vậndụng tổng hợp Phần Trăm khi nghiên cứu và điều tra di truyền, vận dụng tri thức về hình họckhông gian trong vẽ kĩ thuật … – Tổ chức những hoạt động giải trí thực hành thực tế toán học trong và ngoài nhà trườngkể cả những hoạt động giải trí có đặc thù tập dượt điều tra và nghiên cứu gồm có khâu đặt bàitoán, kiến thiết xây dựng quy mô, thu thập dữ liệu, xử lí quy mô để tìm giải thuật, đốichiếu giải thuật với thực tiễn để kiểm tra và kiểm soát và điều chỉnh [ 16, tr. 53 ]. Tất cả những hoạt động giải trí trên cần dẫn tới hình thành phẩm chất luôn luônmuốn ứng dụng tri thức và giải pháp Toán để lý giải, phê phán và giảiquyết những vấn đề xảy ra trong đời sống. Chẳng hạn, khi nhìn thấy một sốghi ở một cột bên lề đường, hoàn toàn có thể học viên chưa biết được số đó chỉ cái gì. Chính ý thức và phong thái vận dụng Toán học sẽ thôi thúc họ xem xét sự biếnthiên của những số trên những cột để giải đáp điều đó. Tác giả Trần Kiều cho rằng : ” Học Toán trong nhà trường phổ thông không phải chỉ đảm nhiệm hàng loạt cáccông thức, định lý, giải pháp thuần túy mang tính lí thuyết, cái đầu tiênvà cái ở đầu cuối của quy trình học Toán phải đạt tới là hiểu được nguồn gốcthực tiễn của Toán học và nâng cao năng lực ứng dụng, hình thành thói quenvận dụng Toán học vào đời sống ” [ 21, tr. 3 – 4 ]. ” Loại trừ những ứng dụngkhỏi Toán học chẳng khác gì đi tìm một thực thể sống chỉ từ một tro cốt, không bắp thịt, không thần kinh, không mạch máu ” [ 6, tr. 31 ]. Tuy nhiên, trướchết học viên cần được trang bị cho một mạng lưới hệ thống vững chãi những tri thức, kĩ13năng, chiêu thức Toán học phổ thông một cách có mạng lưới hệ thống, cơ bản, hiệnđại, sát thực tiễn Nước Ta theo niềm tin giáo dục kĩ thuật tổng hợp. 1.3. Mục đích của việc tăng cường liên hệ với thực tiễn trong quátrình dạy học Toán ở trường Trung học phổ thông1. 3.1. Tăng cường liên hệ với thực tiễn góp thêm phần triển khai xong tiềm năng, trách nhiệm dạy học bộ môn Toán ở trường phổ thông trong tiến trình hiện nayTrước hết ta đề cập đến tiềm năng chung của của giáo dục nước ta đã đượcquy định trong Luật Giáo dục ( năm 2005 ) : ” Mục tiêu của giáo dục phổ thông làgiúp học viên tăng trưởng tổng lực về đạo đức, trí tuệ, sức khỏe thể chất, thẩm mỹ và nghệ thuật và cáckĩ năng cơ bản, tăng trưởng năng lượng cá thể, tính năng động và phát minh sáng tạo, hìnhthành nhân cách con người Nước Ta xã hội chủ nghĩa, kiến thiết xây dựng tư cách vàtrách nhiệm công dân ; chuẩn bị sẵn sàng cho học viên liên tục học lên hoặc đi vào cuộcsống lao động, tham gia thiết kế xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ” ( Điều 27 ). Nói một cáchtổng quát, tiềm năng của nhà trường phổ thông nước ta là hình thành những cơsở bắt đầu và trọng điểm của con người mới tăng trưởng tổng lực tương thích vớiyêu cầu và điều kiện kèm theo, thực trạng của quốc gia Nước Ta. Hiện nay, quốc tế đã bước vào kỉ nguyên kinh tế tri thức và toàn thế giới hóacùng với sự tăng trưởng can đảm và mạnh mẽ của khoa học công nghệ tiên tiến, đặc biệt quan trọng là lĩnh vựccông nghệ kỉ thuật cao. Còn nước ta, vào tháng 4 năm 2006, diễn ra Đại hộiĐảng toàn nước lần thứ 10 ; ngày 07 tháng 11 năm 2006 Nước Ta trở thànhthành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới ( WTO ) và ngày 17 tháng 11 năm 2006 khai mạc Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu á – Thái BìnhDương ( APEC ) lần thứ 14 tại TP.HN. Nước Ta đang tự tin bước vào một kỉnguyên mới – kỉ nguyên hội nhập quốc tế và hợp tác cạnh tranh đối đầu toàn thế giới. Để theo kịp với những chuyển biến to lớn trên về tình hình kinh tế tài chính vàchính trị xã hội của nước ta cũng như trên quốc tế trong quy trình tiến độ này – một14giai đoạn mà cạnh tranh đối đầu quốc tế là cạnh tranh đối đầu về con người. Nền giáo dục phảicó thiên chức làm thế nào giảng dạy ra những thế hệ con người Nước Ta có đủ sứcmạnh trí tuệ và nhân cách để đưa nước ta hội nhập thành công xuất sắc và cạnh tranhthắng lợi trong thiên nhiên và môi trường toàn thế giới. Giáo sư Hoàng Tụy đã từng có quan điểm chorằng : ” xã hội công nghệ tiên tiến ngày này yên cầu một lực lượng lao động có trình độsuy luận, biết so sánh nghiên cứu và phân tích, ước đạt thống kê giám sát, hiểu và vận dụng đượcnhững mối quan hệ định lượng hoặc lôgic, thiết kế xây dựng và kiểm nghiệm những giảthuyết và quy mô để rút ra những Tóm lại có tính lôgic ” [ 53, tr. 5 – 6 ]. Muốnvậy, nền giáo dục cũng phải có những đổi khác về tiềm năng, trách nhiệm vàphương pháp dạy học. Trong Đại hội đại biểu toàn nước lần thứ X của Đảng, một trong những trách nhiệm và giải pháp lớn về giáo dục được đề ra là : ” Nângcao chất lượng giáo dục tổng lực. Đổi mới cơ cấu tổ chức, tổ chức triển khai, nội dung, phươngpháp dạy và học theo hướng ” chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá ”. Phát huy trísáng tạo, năng lực vận dụng, thực hành thực tế của người học. Đề cao nghĩa vụ và trách nhiệm củagia đình, nhà trường và xã hội ” [ 43, tr. 58 ]. Trong trường phổ thông môn Toán có vai trò, vị trí và ý nghĩa hết sứcquan trọng trong việc thực thi tiềm năng chung của giáo dục phổ thông. Đặcbiệt trong tiến trình lúc bấy giờ nó càng có vai trò và ý nghĩa quan trọng hơn, làmột thành phần không hề thiếu của trình độ văn hóa truyền thống phổ thông của con người mới. 1.3.1. 1. Tăng cường liên hệ với thực tiễn góp thêm phần triển khai xong 1 số ít trithức và kĩ năng toán học thiết yếu cho học sinhTrong quy trình liên hệ với thực tiễn, trải qua một yếu tố lịch sử vẻ vang, mộtứng dụng Toán học nào đó hoặc một mệnh đề nhìn nhận ( ví dụ điển hình, ” Toán họclà ” chìa khóa ” của hầu hết những hoạt động giải trí của con người “. ) thì hai dạng tri thứclà tri thức sự vật và tri thức giá trị được hình thành và hoàn thành xong. Còn trải qua những ứng dụng Toán học, học viên sẽ được rèn luyện nhữngkĩ năng trên những bình diện khác nhau sau : 15 – Kĩ năng vận dụng tri thức trong nội bộ môn Toán. – Kĩ năng vận dụng tri thức Toán học vào những môn học khác nhau. – Kĩ năng vận dụng Toán học vào đời sống. Qua việc rèn luyện những kĩ năng trên bình diện thứ nhất và thứ hai sẽ nângcao mức độ thông hiểu tri thức Toán học cho học viên. Vì rằng muốn vận dụngđược tri thức để làm toán thì cần phải thông hiểu nó. Đồng thời, biểu lộ vai tròcông cụ của Toán học so với những khoa học khác ; biểu lộ mối quan hệ liênmôn giữa những môn học trong nhà trường. Do vậy người giáo viên dạy Toán cầncó quan điểm tích hợp trong dạy học bộ môn. Còn trên bình diện thứ ba, đây làmột tiềm năng quan trọng của môn Toán. Cho học viên thấy rõ mối liên hệ giữaToán học và đời sống. Qua đây, giúp học viên hình thành và tăng trưởng kĩ năng ” toán học hóa trường hợp trong thực tiễn “. Dựa vào sự nghiên cứu và phân tích những tiềm năng dạy học của Benjamin Bloom và cáccộng sự ( Dẫn theo [ 19, tr. 51 – 52 ] ), quy trình liên hệ với thực tiễn trong dạyhọc Toán còn giúp học viên phối hợp giữa sở hữu tri thức và rèn luyện kĩnăng bộc lộ ở 6 công dụng trí tuệ từ thấp lên cao biểu lộ qua sơ đồ sau : Như vậy, việc tăng cường liên hệ với thực tiễn trong dạy học Toán đãgiúp học viên hoàn thành xong những tri thức như tri thức giải pháp, tri thức giá trịvà rèn luyện nhằm mục đích hoàn thành xong một số ít kĩ năng như kĩ năng ứng dụng ( cả trongvà ngoài môn Toán ), kĩ năng nghiên cứu và phân tích, tổng hợp, nhìn nhận … 1.3.1. 2. Tăng cường liên hệ với thực tiễn giúp hình thành và tăng trưởng thếgiới quan duy vật biện chứng cho học sinhBiết ThônghiểuVậndụngPhântíchTổnghợpĐánh giá16Phôc vôX © y dùng nªnC ¸ c lÝ thuyÕt To ¸ nhäcThùc tiÔnDạy học Toán theo hướng tăng cường liên hệ với thực tiễn sẽ góp phầnlàm rõ mối quan hệ biện chứng giữa Toán học và thực tiễn : Toán học bắtnguồn từ thực tiễn và quay trở lại Giao hàng thực tiễn. Lịch sử đã cho thấy rằng, Toán học có nguồn gốc thực tiễn, chính sự pháttriển của thực tiễn đã có tính năng lớn so với toán học. Thực tiễn là cơ sở đểnảy sinh, tăng trưởng và hoàn thành xong những lí thuyết Toán học. Ví dụ : Số tự nhiên sinh ra do nhu yếu đếm những vật phẩm. Tập hợp số nguyênđược thiết kế xây dựng để cho phép trừ luôn triển khai được, hoặc những phương trìnhdạng a + x = b luôn có nghiệm. Trong quy trình đo đạc nhiều khi gặp phảinhững đại lượng không tiềm ẩn một số ít tự nhiên hoặc do nhu yếu chia nhữngvật ra nhiều phần bằng nhau mà số trình diễn bởi phân số được phát sinh. Hệthống số hữu tỉ được hình thành do nhu yếu đo những đại lượng hoàn toàn có thể xét theohai chiều ngược nhau. Hệ thống số thực được thiết kế xây dựng do nhu yếu đo nhữngđoạn thẳng, sao cho mỗi đoạn thẳng, kể cả những đoạn thẳng không đo đượcbằng số hữu tỉ, đều có 1 số ít đo. Trong lịch sử vẻ vang Toán học, để giải phương trìnhbậc 3 người ta đã phải giải phương trình bậc 2 như một bước trung gian. Khixét phương trình : x – x = 0 rõ ràng là có 3 nghiệm 0, 1, – 1 nhưng ta nhận thấyrằng phương trình bậc 2 trung gian lại có biệt số âm. Việc ” Không có căn bậc 2 của số âm “, ” Phương trình bậc 2 vô nghiệm khi biệt số âm ” đã làm xuất hiệnmâu thuẫn. Nhưng nếu thử gật đầu những số mà bình phương bằng – 1 ( mộtcách hình thức ) để biểu lộ nghiệm của phương trình bậc hai trung gian thì cuốicùng cũng đi đến ba nghiệm của phương trình bậc 3 nói trên. Thực tế này gợi raviệc cần phải lan rộng ra tập số thực, đưa thêm vào cả những số mà bình phươngbằng số âm, đi đến tập hợp số phức. Như vậy, học viên sẽ hình thành được quan điểm duy vật về nguồn gốcToán học, thấy rõ Toán học không phải là một loại sản phẩm thuần tuý của trí tuệ17mà được phát sinh và tăng trưởng do như cầu thực tế đời sống. Đồng thời cũnggiúp học viên nghiệm ra rằng xích míc biện chứng là động lực của sự tăng trưởng. trái lại, toán học lại xâm nhập vào thực tiễn thôi thúc thực tiễn pháttriển. Với vai trò là công cụ, Toán học sẽ giúp xử lý những bài toán do thựctiễn đặt ra. Mối quan hệ biện chứng giữa lí luận và thực tiễn cũng biểu lộ quacông thức nhận thức thiên tài của V. I. Lênin : ” Từ trực quan sinh động đến tưduy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường nhậnthức chân lí, con đường nhận thức hiện thực khách quan “. Trong dạy học, theo Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn là không nên đi theo conđường sao chép lí luận ở đâu đó rồi nhồi cho người học, vì học như vậy là kiểuhọc sách vở. Nên theo con đường có một lí luận hướng dẫn khởi đầu rồi bắt tayhoạt động thực tiễn, dùng thực tiễn này mà củng có lí luận, thừa kế có phê phánlí luận của người khác, rồi lại hoạt động giải trí thực tiễn, cứ thế theo mối quan hệ qualại giữa lí luận và thực tiễn mà đi lên. Ví dụ [ 5, tr. 40 ] : Khi dạy về ” Số thực dương, số thực âm ” để cho học viên thuận tiện tiếp thuta hoàn toàn có thể đề cập sự liên hệ : ” Một người A nào đó suy cho cùng, hoặc là khôngcó tiền ( A không có đồng xu tiền nào cả ) hoặc có tiền ( A có một số tiền nào đó ) hoặc đang nợ tiền. Và như vậy ta hoàn toàn có thể gán số 0 với trường hợp A không cótiền, số dương với trường hợp A có tiền và số âm với trường hợp A đang nợtiền. Lúc này thì học viên sẽ thuận tiện tiếp đón đặc thù ” Nếu a > 0, b > 0 thì a + b > 0 “, ” Phủ định của mệnh đề ” a > 0 ” là mệnh đề ” a0 ” “. Với đặc thù ” a ba cb c ⇒ > ” ta hoàn toàn có thể liên hệ như sau : 18 ” Bạn A có số tiền lớn hơn bạn B và bạn B lại có số tiền lớn hơn bạn C ” thìbằng thực tiễn, học viên thuận tiện nói được một cách chắc như đinh rằng bạn A có sốtiền lớn hơn bạn C.Một đặc thù khá quan trọng và có nhiều ứng dụng đó là : 0 cnÕubcac0cnÕubcacba < < >> ⇔ > Có thể minh họa để học viên dễ hiểu, dễ nhớ như sau : Gọi a, b lần lượt là số người của 2 nhóm A và B.a > b : số người nhóm A lớn hơn số người nhóm B.Như vậy : Nếu nhân số người mỗi nhóm với một số tiền nào đó thì số tiền nhóm Athu được lớn hơn số tiền nhóm B.Nếu nhân số người mỗi nhóm với một số tiền nợ nào đó thì số tiền nhómA nợ sẽ nhiều hơn số tiền nhóm B nợ. Sau khi có sự liên hệ trên, ta cho học viên Quy tắc : Nếu nhân hai vế của một bất đẳng thức với cùng 1 số ít dương, ta đượcmột bất đẳng thức cùng chiều và tương tự. Nếu nhân hai vế của một bất đẳng thức với cùng một số âm, ta được mộtbất đẳng thức trái chiều và tương tự. Rõ ràng sự liên hệ trên sẽ giúp học viên dễ hiểu, dễ nhớ và tránh đượccách dạy học ” sao chép lí luận ở đâu đó rồi nhồi cho người học ” như GS.Nguyễn Cảnh Toàn đã đề cập. Đặc biệt rèn luyện cho học viên thói quen liêntưởng, kiểm nghiệm tính đúng đắn của những kiến thức và kỹ năng mỗi khi sử dụng. Nhờ19vậy, những phẩm chất, tính cách của người lao động mới như tính cẩn trọng, đúng chuẩn cũng được hình thành và triển khai xong. 1.3.1. 3. Tăng cường liên hệ với thực tiễn góp thêm phần rèn luyện và phát triểncác năng lượng trí tuệMôn Toán có tiềm năng rất lớn trong việc góp thêm phần tăng trưởng năng lượng trítuệ chung cho học viên như tư duy trừu tượng, tư duy lôgic, tư duy biện chứng, rèn luyện những trí tuệ cơ bản như nghiên cứu và phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa …, những phẩm chất tư duy như linh động, độc lập, phát minh sáng tạo … Chính trong quá trìnhdạy học theo hướng tăng cường liên hệ với thực tiễn mà những năng lượng trí tuệnày được hình thành và tăng trưởng. – Các hoạt động giải trí trí tuệ cơ bản : việc tăng cường liên hệ với thực tiễntrong dạy học môn Toán yên cầu học viên phải tiếp tục thực thi nhữnghoạt động trí tuệ cơ bản như nghiên cứu và phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quáthóa, tựa như hóa, so sánh, … nên có tính năng rất lớn trong việc rèn luyện chohọc sinh những hoạt động giải trí trí tuệ này. Trong đó nghiên cứu và phân tích và tổng hợp là haihoạt động trí tuệ cơ bản của quy trình tư duy, làm nền tảng cho những hoạt độngtrí tuệ khác ; là hai hoạt động giải trí trái ngược nhau nhưng lại là hai mặt của mộtquá trình thống nhất. – Hình thành những phẩm chất trí tuệ như tính linh động, tính độc lập, tínhsáng tạo. Việc rèn luyện cho học viên những phẩm chất trí tuệ này có ý nghĩato lớn so với việc học tập, công tác làm việc và trong đời sống. ∗ Tính linh động : bộc lộ ở năng lực phát hiện, chuyển hướng nhanh quátrình tư duy nhằm mục đích ứng dụng kỹ năng và kiến thức Toán học để xử lý thành công xuất sắc mộtvấn đề. ∗ Tính độc lập : bộc lộ ở năng lực tự mình phát hiện yếu tố, tự mình xácđịnh phương hướng và lựa chọn kỹ năng và kiến thức để ứng dụng xử lý một bài toán20đặt ra trong thực tiễn, tự mình kiểm tra lại và nhìn nhận hiệu quả. Tính độc lập cóliên hệ mật thiết với tính phê phán của tư duy. ∗ Tính phát minh sáng tạo : hai phẩm chất trí tuệ nói trên là những điều thiết yếu, những đặc thù về những mặt khác nhau của tư duy phát minh sáng tạo. Tính sáng tạocủa tư duy được bộc lộ rõ nét ở việc biết vận dụng linh động những kiến thứcToán đã được học ở trường để xử lý những yếu tố đặt ra trong thực tiễn. – Phát triển năng lực suy đoán và tưởng tượng : việc liên hệ với thực tiễnsẽ rèn luyện cho học viên năng lực tưởng tượng những đối tượng người dùng Toán học cótrong đời sống và thao tác với chúng dựa trên những tài liệu bằng lời. Đồng thời tạo cho học viên ý thức sử dụng những quy tắc suy đoán như xét tươngtự, khái quát hóa, quy lạ về quen … trên nền tảng tri thức và kinh nghiệm tay nghề nhất định. – Khả năng tư duy lôgic và sử dụng ngôn từ đúng chuẩn cũng được pháttriển trong hoạt động giải trí giải toán cực trị, hoặc trong vận dụng Toán học vào cácbộ môn khác. 1.3.1. 4. Tăng cường liên hệ với thực tiễn nhằm mục đích giáo dục lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hộiCũng như những bộ môn khác, quy trình dạy học Toán phải là một quá trìnhthống nhất giữa dạy chữ và dạy người. Muốn vậy cần khai thác tiềm năng đặcthù của môn Toán so với những môn học khác để góp phần vào việc thực hiệnmục tiêu này. Trong quy trình dạy Toán giáo viên cần tranh thủ đưa ra những số liệu vềcông cuộc thiết kế xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vào những đề toán trong trường hợp cóthể. Chẳng hạn những bài toán có nội dung thực tiễn giải bằng cách lập phươngtrình hoặc hệ phương trình. Cũng hoàn toàn có thể khai thác một số ít sự kiện về lịch sử dân tộc Toán học có tương quan tớitruyền thống dân tộc bản địa. Chẳng hạn, trong dân gian có lưu truyền quy tắc tính gần21đúng số : ” Quân bát, phát tam, tồn ngũ, quân nhị “, tức là ” chia ( chu vi ) làm 8 phần, bỏ đi 3 phần, còn lại 5 phần, chia đôi “. Theo quy tắc này, tỉ số của đườngkính và chu vi đường trong bằng16, do đó163, 2 π = = 1.3.1. 5. Tăng cường liên hệ với thực tiễn nhằm mục đích giúp học viên nắm vữngkiến thức cơ bản. Đồng thời phát hiện, tăng trưởng và tu dưỡng năng lượng ứngdụng toán học của học viên, góp thêm phần tạo cơ sở để học viên học tiếp hoặc đivào đời sống lao độngTính trừu tượng là một đặc thù rõ nét của môn Giải tích. Do vậy, so vớicác yếu tố khác của toán học, học viên thường gặp nhiều khó khăn vất vả, chướngngại hơn trong việc tiếp thu những yếu tố Giải tích. Để làm giảm bớt sự trừutượng và tạo niềm vui, hứng thú cho học viên trong quy trình học tập, giáoviên nên chăm sóc đến việc liên hệ với thực tiễn. Xem việc tăng cường liên hệvới thực tiễn như thể phương tiện đi lại để truyền thụ tri thức, rèn luyện kỹ năng và kiến thức, bồidưỡng ý thức và năng lượng ứng dụng Toán học. Thế giới đã bước vào kỷ nguyên kinh tế tri thức và toàn thế giới hóa. với sựphát triển can đảm và mạnh mẽ của khoa học công nghệ tiên tiến. Giáo dục đào tạo, với tính năng chuẩn bịlực lượng lao động cho xã hội, chắc như đinh phải có những sự chuyển biến to lớn, tương ứng với tình hình. Hội đồng quốc tế về Giáo dục đào tạo cho thế kỷ 21 đượcUNESCO xây dựng 1993 do Jacques Delors chỉ huy, nhằm mục đích tương hỗ những nướctrong việc tìm tòi phương pháp tốt nhất để thiết kế lại nền giáo dục của mình vì sựphát triển bền vững và kiên cố của con người. Năm 1996, Hội đồng đã xuất bản ấn phẩmHọc tập : một kho tàng tiềm ẩn, trong đó có xác lập ” Học tập suốt đời ” được dựatrên bốn ” trụ cột ” là : Học để biết ; Học để làm ; Học để chung sống với nhau ; Họcđể làm người. ” Học để làm ” được coi là ” không chỉ tương quan đến việc nắm đượcnhững kỹ năng và kiến thức mà còn đến việc ứng dụng kiến thức và kỹ năng “, ” Học để làm nhằm mục đích làmcho người học nắm được không những một nghề nghiệp mà con có khả năng22đối mặt được với nhiều trường hợp và biết thao tác đồng đội ” ( dẫn theo [ 44, tr. 29 – 30 ] ). ở trường phổ thông nước ta trong tiến trình lúc bấy giờ, tiềm năng chủ yếucủa việc giảng dạy Toán là hình thành và rèn luyện năng lượng ứng dụng. TheoNgô Hữu Dũng : ứng dụng Toán học vào thực tiễn là một trong những năng lựctoán học cơ bản, cần phải rèn luyện cho học viên [ 9, tr. 13 – 16 ]. Đành rằng, đâykhông phải là nhu yếu chỉ của riêng môn Toán, nhưng vì vai trò và vị trí quantrọng của nó – là ” chìa khóa ” của sự tăng trưởng so với nhiều ngành khoa học, công nghệ tiên tiến, của những ngành kinh tế tài chính quốc dân … Do đó, tiềm năng này được nhấnmạnh trong giảng dạy Toán. Việc tăng cường liên hệ với thực tiễn sẽ phát hiện, tăng trưởng và tu dưỡng năng lượng ứng dụng toán học cho học viên. Vấn đề nàycần được đặc biệt quan trọng chăm sóc ở cấp trung học phổ thông, do tại họ đang ở giaiđoạn chuẩn bị sẵn sàng tham gia trực tiếp vào quy trình lao động, sản xuất của xã hội, hoặc tham gia vào những quy trình giảng dạy có tính chuyên môn hóa cao hơn. Rõràng đây là một trong những yếu tố góp thêm phần biểu lộ những quan điểm trên củaUNESCO, góp thêm phần thực thi ” học để làm ” trong dạy học Toán ở trường phổthông nước ta lúc bấy giờ. Muốn vậy, không hề bằng cách nào tốt hơn là sự quantâm thích đáng của giáo viên đến việc liên hệ với thực tiễn trong quy trình dạyhọc. Trong đó, đặc biệt quan trọng chú ý quan tâm rèn luyện những ứng dụng để xử lý những bài toántrong trong thực tiễn với mức độ và giải pháp thích hợp. 1.3.2. Tăng cường liên hệ với thực tiễn nhằm mục đích thực thi nguyên tắc dạyhọc vận dụng vào môn ToánTheo [ 19, tr. 76 ], hai tác giả Hà Thế Ngữ – Đặng Vũ Hoạt đã đưa ra 6 nguyên tắc dạy học. Việc tăng cường liên hệ với thực tiễn trong quy trình dạyhọc toán là triển khai nguyên tắc ” bảo vệ sự thống nhất giữa lí luận và thựctiễn “. Để triển khai nguyên tắc này, [ 16, tr. 149 – 150 ] đưa ra những quan tâm : 23 – Đảm bảo cho học viên nắm vững kiến thức và kỹ năng toán học để hoàn toàn có thể vận dụngđúng vào thực tiễn. – Chú trọng nêu những ứng dụng của toán học vào trong thực tiễn. – Chú trọng đến những kỹ năng và kiến thức toán học có nhiều ứng dụng trong thực tiễn. – Chú trọng rèn luyện cho học viên có những kĩ năng toán học vững chãi. – Chú trọng công tác làm việc thực hành thực tế toán học trong nội khóa cũng như ngoại khóa. Thực hiện những quan tâm nêu trên đồng thời cũng là thực thi tăng cường rènluyện ý thức và kĩ năng vận dụng toán vào thực tiễn cho học viên. 1.3.3. Tăng cường liên hệ với thực tiễn góp thêm phần hoàn thành xong hoạt độnggợi động cơ và hoạt động giải trí củng cốTrong quy trình dạy học bộ môn Toán, gợi động cơ là một trong nhữngkhâu quan trọng nhằm mục đích kích thích hứng thú học tập cho học viên, làm cho việchọc tập trở nên tự giác, tích cực, dữ thế chủ động. Do vậy, để học viên tiếp thu tốt cầnphải triển khai những hoạt động giải trí gợi động cơ ( gợi động cơ khởi đầu, gợi động cơtrung gian, gợi động cơ kết thúc ). ở những lớp dưới, hình thức gợi động cơ mà cácgiáo viên thường sử dụng như cho điểm, khen chê, thông tin tác dụng học tậpcho mái ấm gia đình, Tuy nhiên, càng lên lớp cao, cùng với sự trưởng thành củahọc sinh, với trình độ nhận thức và giác ngộ chính trị ngày càng được nâng cao, thì những cách gợi động cơ xuất phát từ nội dung hướng vào những nhu cầunhận thức, nhu yếu của đời sống, nghĩa vụ và trách nhiệm so với xã hội, ngày càng trởnên quan trọng. Với gợi động cơ mở màn và gợi động cơ kết thúc trong nhiềutrường hợp hoàn toàn có thể xuất phát từ một trường hợp thực tiễn nào đó ( từ đời sốnghoặc từ nội bộ Toán học ). Thực tế cho thấy, gợi động cơ theo cách này kíchthích được hứng thú học tập cho học viên. Đối với hoạt động giải trí củng cố kiến thứccũng hoàn toàn có thể dùng hình thức liên hệ với thực tiễn mà đơn cử hoàn toàn có thể cho học sinhứng dụng kiến thức và kỹ năng vừa học vào xử lý một bài toán nào đó. 241.3.4. Tăng cường liên hệ với thực tiễn góp thêm phần rèn luyện một sốthành tố trong cấu trúc năng lượng toán học của học sinhTheo V. A. Cruchetxki : ‘ ‘ Năng lực Toán học được hiểu là những đặc điểmtâm lí cá thể ( trước hết là những đặc thù hoạt động giải trí trí tuệ ) cung ứng nhữngyêu cầu của hoạt động giải trí học tập Toán học, và trong những điều kiện kèm theo vững chắcnhư nhau thì là nguyên do của sự thành công xuất sắc trong việc nắm vững một cáchsáng tạo toán học với tư cách là một môn học, đặc biệt quan trọng nắm vững tương đốinhanh, thuận tiện, thâm thúy những kiến thức và kỹ năng, kỹ năng và kiến thức, kỹ xảo trong nghành Toánhọc ‘ ‘ ( dẫn theo [ 16 ] ). Dựa theo quan điểm của Lý thuyết thông tin, V. A. Krutecxki cho rằngCấu trúc năng lượng toán học gồm có những thành tố sau : 1 ) Về mặt thu nhận thông tin toán họcĐó là năng lượng tri giác hình thức hoá tài liệu Toán học, năng lượng nắm cấutrúc hình thức của bài toán. 2 ) Về mặt chế biến thông tin toán học – Năng lực tư duy lôgic trong nghành nghề dịch vụ những quan hệ số lượng và khônggian, mạng lưới hệ thống ký hiệu số và dấu. Năng lực tư duy bằng những ký hiệu toán học. – Năng lực khái quát hóa nhanh và rộng những đối tượng người dùng, quan hệ toán họcvà những phép toán. – Năng lực rút gọn quy trình suy luận toán học và mạng lưới hệ thống những phép toántương ứng. Năng lực tư duy bằng những cấu trúc rút gọn. – Tính linh động của quy trình tư duy trong hoạt động giải trí toán học. – Khuynh hướng vươn tới tính rõ ràng đơn thuần, tiết kiệm ngân sách và chi phí, hài hòa và hợp lý của giải thuật. 25

5/5 - (1 vote)
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments