sáng kiến kinh nghiệm:Phương pháp dạy học trải nghiệm sáng tạo trong môn giáo

sáng kiến kinh nghiệm:Phương pháp dạy học trải nghiệm sáng tạo trong môn giáo dục công dân

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.56 MB, 32 trang )

TÓM TẮT SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nẩy sinh sáng kiến
Môn giáo dục công dân giữ vai trò chủ chốt trong việc giáo dục cho học
sinh ý thức và hành vi của người công dân, góp phần hình thành và phát triển ở
các em những phẩm chất và năng lực cần thiết của công dân như: xúc cảm tình
cảm, niềm tin đạo đức, hình thành động cơ bên trong giúp các em tự hoàn thiện,
tự điều chỉnh để vươn tới cái Chân – Thiện –Mĩ. Biết đánh giá hành vi của bản
thân và mọi người xung quanh, biết lựa chọn và thực hiện cách ứng xử phù hợp
với các chuẩn mực đạo đức, pháp luật, văn hoá xã hội trong giao tiếp và hoạt
động ( học tập, lao động, hoạt động tập thể, vui chơi giải trí …). Hình thành ở
các em kĩ năng thể hiện quan hệ của chủ thể với bản thân với mọi người với
công việc và môi trường sống xung quanh các em hằng ngày.
Xã hội thay đổi theo xu hướng hội nhập và mở cửa ngày càng mạnh, sự du
nhập văn hóa Á-Âu tác động mạnh đến một bộ phận giới trẻ, trong đó chủ yếu là
học sinh, sinh viên những chủ nhân tương lai của đất nước, những cách ứng xử
văn hóa truyền thống cũng bị tác động và đôi lúc bị phá vỡ, mô hình gia đình
truyền thống đang dần mai một, cách ứng xử, đối đáp với nhau phát triển theo xu
hướng thị trường hóa. Vấn đề đặt ra với chúng ta làm thế nào để chúng ta hòa
nhập nhưng vẫn giữ được những nét văn hóa đạo đức truyền thống của dân tộc.
Bộ môn Giáo dục công dân trong nhà trường phổ thông đóng vai trò quan trọng,
thực hiện nhiệm vụ khơi dạy văn hóa truyền thống, thắp lửa truyền thống và biến
nó thành hành vi ứng xử văn hóa hàng ngày, nhân rộng cả cộng đồng.
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong môn giáo dục công dân nhằm định
hướng, tạo điều kiện cho học sinh quan sát, suy nghĩ và tham gia các hoạt động
thực tiễn, qua đó tổ chức khuyến khích, động viên và tạo điều kiện cho các em
tích cực nghiên cứu, tìm ra những giải pháp mới, sáng tạo những cái mới trên cơ
1

sở kiến thức đã học trong nhà trường và những gì đã trải qua trong thực tiễn cuộc
sống, từ đó hình thành nhân cách, phẩm chất đạo đức, kĩ năng sống và năng lực

cho học sinh … Phương pháp dạy học trải nghiệm sáng tạo trong môn giáo
dục công dân đáp ứng được yêu cầu đó.
2. Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến
a, Điều kiện áp dụng sáng kiến: trong các tiết dạy Giáo dục công dân
6,7,8,9 phần đạo đức ở trường chúng tôi.
b, Thời gian áp dụng sáng kiến: Thực hiện trong năm học 2015-2016.
c, Đối tượng áp dụng sáng kiến: Tất cả các khối lớp 6,7,8,9 phần chuẩn
mực đạo đức
3. Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến.
Áp dụng sáng kiến trong thực tế giảng dạy, giáo viên đứng lớp của bộ
môn Giáo dục thường xuyên cho các em học sinh được tham gia các hoạt động
trải nghiệm vào thực tế đời sống phù hợp gần gũi, quen thuộc với các em trong
cuộc sống vào các tiết học giáo dục công dân. Các em trong tiết học chuyển từ
tư thế bị động tiếp nhận sang tư thế chủ động lĩnh hội và chiếm lĩnh, các em
được tham gia vào các hoạt động để tìm ra bài học cho mình và củng cố khắc sâu
bài học. Cách học và rèn luyện trải nghiệm sáng tạo khiến việc tiếp cận kiến thức
vốn khô khan, vốn xa lạ, trừu tượng trở nên dễ hiểu, dễ vận dụng, dễ thực hành
điều chỉnh hành vi và bài học trở nên nhẹ nhàng hơn. Thông qua việc tham gia
vào các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, học sinh được phát huy vai trò chủ thể,
tính tích cực, chủ động, tự giác và sáng tạo của bản thân.
4.Khẳng định giá trị và kết quả đạt được của sáng kiến
Sáng kiến “Dạy học theo phương pháp trải nghiệm sáng tạo” mang lại
những ưu thế vượt trội, hỗ trợ và giảm áp lực cho các giáo viên đứng lớp và học
2

sinh, tăng hiệu quả cho tiết dạy, kiến thức được truyền tải một cách nhẹ nhàng,
sinh động, học sinh hào hứng, thích thú, chủ động tham gia chiếm lĩnh kiến thức,
chủ động bộc lộ, rèn luyện và tự biết điều chỉnh hành vi.
Mục tiêu của môn học, giáo viên dễ dàng đạt được trong tiết dạy: học sinh

không chỉ hiểu chuẩn mực, nắm chuẩn mực mà xa hơn học sinh hình thành ý
thức thực hiện chuẩn mực và điều chỉnh hành vi của bản thân mình, điều chỉnh
hành vi của mọi người xung quanh. Đó là nền tảng cơ bản góp phần để thực hiện
mục tiêu giáo dục đào tạo những con người có nhân cách, phẩm chất đạo đức tốt.
5. Đề xuất, kiến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng sáng kiến
Đối với ngành Giáo dục cần trạng bị cho bộ môn những đồ dùng, tài liệu
đa dạng và phù hợp cho bộ môn.
+ Cần có những kế hoạch học tập bồi dưỡng thiết thực và hiệu quả cho
các giáo viên bộ môn chú ý nhiều đến kĩ năng thực hành để các giáo viên có cơ
hội học hỏi và trao đổi chuyên môn nghiệp vụ.
– Đối với nhà trường: cần quan tâm đúng mức với bộ môn, nhận thức bộ
môn đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục đạo đức
trong nhà trường
+ Đầu tư trang bị đồ dùng, sách vở hỗ trợ cho bộ môn.
Trên đây là một vài ý kiến nhỏ của tôi nhằm góp phần vào việc giảng dạy
môn Giáo dục công dân phần giáo dục chuẩn mực đạo đức theo hướng phát triển
năng lực. Tôi rất mong được sự quan tâm giúp đỡ và góp ý kiến của các cấp lãnh
đạo và bạn bè đồng nghiệp.

PHẦN 3

MÔ TẢ SÁNG KIẾN
A. PHẦN MỞ ĐẦU
3

1. Hoàn cảnh nẩy sinh sáng kiến
Trong công cuộc đổi mới của ngành Giáo dục phổ thông, đòi hỏi sự đổi
mới nội dung, chương trình sách giáo khoa và phương pháp dạy – học theo định
hướng phát triển năng lực học sinh. Công cuộc đổi mới ấy xuất phát từ đòi hỏi

ngày càng cao của xã hội trong đào tạo con người Việt Nam mới. Nằm trong hệ
thống mục tiêu giáo dục; bộ môn Giáo dục công dân có một vị trí, vai trò vô
cùng quan trọng trong việc hình thành, phát triển nhân cách, góp phần xây dựng
tư cách và trách nhiệm công dân cho học sinh cũng như góp phần quan trọng vào
việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường, của xã hội trong xu
thế hội nhập. Đây là bộ môn cung cấp cho học sinh một hệ thống các giá trị đạo
đức, pháp luật cơ bản; cung cấp các chuẩn mực, lối sống phù hợp với yêu cầu
của xã hội, trang bị cho học sinh những kĩ năng ứng xử, thái độ sống đúng đắn,
giúp học sinh biết sống một cách tích cực và năng động góp phần quan trọng
trong hình thành những năng lực cơ bản của con người: Năng lực tự hoàn thiện,
năng lực giao tiếp, thích ứng, tổ chức quản lý và năng lực hoạt động xã hội.
Hoạt động giáo dục ở trường THCS sau năm 2015 cần quán triệt tinh thần và
mục tiêu của Nghị Quyết số 29-NQ/TW về: Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo, nghĩa là cần tổ chức các hoạt động giáo dục theo hướng tăng cường
sự trải nghiệm, nhằm phát huy tính sáng tạo cho học sinh, tạo ra các môi trường
khác nhau để học sinh được trải nghiệm nhiều nhất, đồng thời là sự khởi nguồn
sáng tạo, biến những ý tưởng sáng tạo của học sinh thành hiện thực để các em
thể hiện hết khả năng sáng tạo của mình. Đối với bộ môn giáo dục công dân hoạt
động trải nghiệm sáng tạo giúp học sinh phải kinh qua thực tế, tham gia vào
hoặc tiếp xúc đến các hoạt động giáo dục đạo đức và pháp luật trong nhà trường
và xã hội để các em tự liên hệ bản thân vào thực tế tìm ra cái mới, cách giải
quyết mới không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có.
4

Môn Giáo dục công dân ở trường trung học cơ sở, nhiều giáo viên dạy bộ
môn đã rất quan tâm tìm tòi các biện pháp sư phạm nhằm gây hứng thú với học
sinh. Song trong nhiều năm trở về trước, đa số giáo viên dạy môn Giáo dục công
dân chưa được đào tạo chuyên môn và đôi khi là những giáo viên dạy một môn
chính và môn Giáo dục công dân chỉ là môn dạy phụ của giáo viên, môn học phụ

của học sinh. Giáo viên dạy bộ môn khi có sự thay đổi chương trình, nội dung
và phương pháp giảng dạy thì gặp nhiều khó khăn và lúng túng. Đổi mới nội
dung, chương trình, sách giáo khoa và phương pháp giảng dạy cũng kéo theo
nhận thức, hành động của mọi người đều thay đổi. Hiện nay, việc khai thác một
bài dạy như thế nào để truyền đạt nội dung kiến thức bài học đến học sinh một
cách đơn giản, nhẹ nhàng, dễ tiếp nhận nhất vẫn là một yêu cầu đối với các giáo
viên dạy bộ môn Giáo dục công dân
2. Cơ sở lí luận của vấn đề
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong môn Giáo dục công dân là các hoạt
động giáo dục thực tiễn được tiến hành song song với hoạt động dạy học trong
nhà trường THCS. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một bộ phận của quá trình
giáo dục, được tổ chức trong giờ học và ngoài giờ học ở trên lớp và có mối quan
hệ bổ sung, hỗ trợ cho hoạt động dạy học. Thông qua các hoạt động thực hành,
những việc làm cụ thể và các hành động của học sinh, hoạt động trải nghiệm
sáng tạo là các hoạt động giáo dục có mục đích, có tổ chức được thực hiện nhằm
phát triển, nâng cao các tố chất và tiềm năng của bản thân học sinh, nuôi dưỡng
ý thức sống tự lập, đồng thời quan tâm, chia sẻ tới những người xung quanh.
Thông qua việc tham gia vào các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, học sinh được
phát huy vai trò chủ thể, tính tích cực, chủ động, tự giác và sáng tạo của bản
thân. Các em được chủ động tham gia vào tất cả các khâu của quá trình hoạt
động: từ thiết kế hoạt động đến chuẩn bị, thực hiện và đánh giá kết quả hoạt
động phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và khả năng của bản thân. Các em được trải
5

nghiệm, được bày tỏ quan điểm, ý tưởng, được đánh giá và lựa chọn ý tưởng
hoạt động, được thể hiện, tự khẳng định bản thân, được tự đánh giá và đánh giá
kết quả hoạt động của bản thân, của nhóm mình và của bạn bè… Từ đó, hình
thành và phát triển cho các em những giá trị đạo đức, ý thức chấp hành pháp luật
và các năng lực cần thiết. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong môn giáo dục

công dân về cơ bản mang tính chất của hoạt động tập thể, hoạt động nhóm trên
tinh thần tự chủ, với sự nỗ lực giáo dục nhằm phát triển khả năng sáng tạo và cá
tính riêng của mỗi cá nhân trong tập thể.
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong môn Giáo dục công dân có nội dung
rất đa dạng và mang tính giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục kĩ năng
sống, giáo dục giá trị sống, giáo dục nghệ thuật, thẩm mĩ, giáo dục thể chất, giáo
dục lao động, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục môi trường, giáo dục phòng
chống ma túy, giáo dục phòng chống HIV/AIDS và tệ nạn xã hội.
Nội dung giáo dục của hoạt động trải nghiệm sáng tạo thiết thực và gần gũi
với cuộc sống thực tế, đáp ứng được nhu cầu hoạt động của học sinh, giúp các
em vận dụng những hiểu biết của mình vào trong thực tiễn cuộc sống một cách
dễ dàng, thuận lợi.
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có thể tổ chức theo các quy mô khác nhau
như: theo nhóm, theo lớp, theo khối lớp. Tuy nhiên, tổ chức theo quy mô nhóm
và quy mô lớp có ưu thế hơn về nhiều mặt như đơn giản, không tốn kém, mất ít
thời gian, học sinh tham gia được nhiều hơn và có nhiều khả năng hình thành,
phát triển các năng lực cho học sinh hơn.
3. Thực trạng vấn đề.
Thực trạng trong những năm thay đổi nội dung, chương trình, sách
giáo khoa và phương pháp giảng dạy. Giáo viên dạy bộ môn, học sinh học bộ
6

môn và đặc biệt là cái nhìn của xã hội về vai trò của việc giáo dục đạo đức,
pháp luật trong nhà trường đã thay đổi với xu thế tích cực. Quan niệm về một
môn dạy phụ, một môn học phụ đã được nhìn nhận đúng hơn. Tuy nhiên vấn
đề trước hết được đặt ra với giáo viên đứng lớp ở bộ môn này là: làm sao để
thu hút học sinh học bộ môn một cách chủ động, tích cực và hứng thú, sôi nổi
từ việc khai thác những nội dung thông tin có liên quan đến chủ đề bài học đến
rút ra những khái niệm hay nội dung thông tin cần cung cấp trong bài đến phần

củng cố tri thức, rèn kĩ năng, phát triển cảm xúc, tình cảm, niềm tin, thúc đẩy
các em tích cực rèn luyện theo những yêu cầu của chuẩn mực đạo đức và pháp
luật trong đời sống, vẫn là những vấn đề trăn trở và khó khăn đối với đội ngũ
giáo viên giảng dạy bộ môn Giáo dục công dân trong các nhà trường phổ
thông.
Thực trạng tiếp theo là một bộ phận lớn giáo viên và học sinh vẫn coi
đây là môn học phụ, môn dạy phụ thì không yêu cầu đòi hỏi khắt khe, phải đầu
tư nhiều về thời gian công sức và tâm huyết. Chính vì vậy mới có thực trạng
giáo viên chỉ dừng ở phương pháp vấn đáp hoặc thuyết trình các khái niệm
đạo đức và Pháp luật nên các em học sinh không hiểu được cặn kẽ vấn đề dẫn
đến tình trạng học sinh học thuộc lòng “học vẹt”, học thuộc lý thuyết mà không
hiểu vấn đề dẫn đến mau quên.Và học sinh chỉ hiểu bộ môn học Giáo dục
công dân cũng như các môn học khác là chỉ cần nắm khái niệm – mục tiêu
giáo dục của môn học chưa hoàn thành. Cho nên hiện trạng đau lòng là các em
được học đạo đức, giáo dục đạo đức nhưng lại thường xuyên vi phạm đạo đức.
Để thay đổi thực trạng này, yêu cầu người Giáo viên dạy bộ môn cần
thực hiện tốt trách nhiệm của mình, để thực sự môn Giáo dục công dân trong
nhà trường thay đổi cả về lượng và về chất.
Việc dạy học trải nghiệm sáng tạo trong môn giáo dục công dân là rất
cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
7

4. Phương pháp nghiên cứu.
Trong khuôn khổ của đề tài, tôi đã thực hiện các bước sau:
4.1. Phương pháp phân tích tổng hợp.
– Đọc kĩ các tài liệu tham khảo khi soạn giáo án để có các biện pháp
hướng dẫn cụ thể khi hướng dẫn các hoạt động học tập của học sinh.
– Khái quát thành những kĩ năng để giúp học sinh thấy kiến thức của bộ
môn là gần gũi, hoàn toàn không xa lạ trong đời sống của các em và việc tiếp cận

phạm trù kiến thức bộ môn hoàn toàn đơn giản, dễ hiểu, dễ vận dụng.
4.2. Phương pháp khảo sát, phân loại.
– Tìm hiểu đối tượng học sinh qua giảng dạy .
– Khảo sát thực trạng dạy – học và phân loại đối tượng học sinh theo từng
giai đoạn dạy và học .
4.3. Phương pháp thực nghiệm.
– Thực nghiệm dạy, kiểm tra, thống kê kết quả thực nghiệm trên bài kiểm
tra, trong cả quá trình dạy- học của học sinh khi áp dụng .

B. PHẦN NỘI DUNG
1. Khảo sát, đánh giá thực trạng việc học tập bộ môn của học sinh.
1. Phương pháp khảo sát.
Điều tra trắc nghiệm trên phiếu điều tra.( Đầu năm học 2014-2015)
8

Câu hỏi:
Câu hỏi 1. Hãy bày tỏ thái độ của em đối với việc học tập môn Giáo dục
công dân bằng cách trả lời các câu hỏi sau:
2. Bảng kết quả.
Bước 1
Lớp

Sĩ số
Yêu thích

6A
6B
7A
7B

7C
8A
8B
9A
9B

Kết quả
Thái độ của em với bộ môn GDCD
Bình thường Không thích
Không bày tỏ

40
8
20
7
40
9
19
6
29
7
15
3
27
8
10
4
29
9
15

3
37
11
16
5
37
10
17
5
38
6
20
7
37
5
21
6
Thời gian khảo sát cuối học kỳ I – Năm học: 2014-2015.

thái độ
5
4
4
5
2
5
5
5
5

Bước 2:
Câu hỏi 2: Em có thích được học trải nghiệm sáng tạo trong môn giáo dục công
dân không?
Em có thích được học trải nghiệm sáng tạo trong môn giáo dục
Lớp
6A
6B
7A
7B
8A
8B
8C
9A

công dân không?

số
40
40
29
27
29
28
31
38


40

40
29
27
29
28
31
38

Không

9

Không có câu trả lời

9B

37

37

Thời gian khảo sát cuối học kỳ I – Năm học: 2015-2016.
* Đánh giá.
Qua kết quả điều tra ở bước 1: cho ta thấy học sinh không mấy mặn mà,
hứng thú và yêu thích đối với bộ môn, các em chỉ coi bộ môn như tất cả các môn
học trong nhà trường được yêu cầu trong chương trình học. Vai trò của bộ môn
Giáo dục công dân trong nhà trường chưa phát huy hết nhiệm vụ, chức năng của
mình là phối kết hợp giáo dục và trang bị kiến thức kĩ năng sống, ứng xử giao
tiếp hình thành và hoàn thiện nhân cách cho các em theo yêu cầu mới của xã hội.
Kết quả khảo sát ở bảng 2 đã cho thấy, đa số học sinh mong muốn được

học trải nghiệm sáng tạo.
Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân:
– Nhiều thầy cô cũng quan niệm dạy môn phụ thì không cần khắt khe với
các em chỉ cần các em học thuộc lý thuyết là được. Đây cũng là lí do các em
thường cảm thấy gặp khó khăn trong các bài học về đạo đức và Pháp luật.
– Bản thân các bài học này vốn khô khan và khó nhớ. Và nếu giáo viên
chỉ dừng ở phương pháp vấn đáp hoặc thuyết trình các khái niệm đạo đức và
Pháp luật thì các em sẽ không hiểu được cặn kẽ vấn đề dẫn đến các em dễ rơi
vào tình trạng “học vẹt”, học thuộc lý thuyết mà không hiểu dẫn đến mau
quên.
– Giáo viên chưa tích cực cho học sinh trải nghiệm vào thực tế cuộc sống
có thật vừa gần gũi với các em trong khi bản thân các em rất khao khát được
trải nghiệm và tham gia các hoạt động liên quan đến chuẩn mực.
Từ thực trạng trên, bản thân tôi mạnh dạn đưa ra 1 số biện pháp cụ thể
giúp học sinh có niềm yêu thích hơn trong học tập bộ môn cũng như vận dụng
tốt hơn các chuẩn mực đạo đức vào thực tế cuộc sống.
10

2. Các hình thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong môn giáo
dục công dân.
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong môn giáo dục công dân được tổ chức
dưới nhiều hình thức khác nhau như hoạt động nhóm, tổ chức trò chơi, diễn
thuyết, sân khấu hóa, tham quan, chiến dịch. Mỗi hình thức hoạt động trên đều
mang ý nghĩa giáo dục nhất định. Dưới đây là một số hình thức tổ chức của hoạt
động trải nghiệm sáng tạo trong môn giáo dục công dân.
3. Đưa các hoạt động trải nghiệm vào bài dạy.
3.1. Hoạt động nhóm
Trong môn giáo dục công dân hoạt động của nhóm dưới sự định hướng của
giáo viên nhằm tạo môi trường giao lưu thân thiện, tích cực giữa các học sinh với

nhau. Hoạt động nhóm tạo cơ hội để học sinh được chia sẻ những kiến thức, hiểu
biết của mình về lĩnh vực mà các em quan tâm, qua đó phát triển các kĩ năng của
học sinh như: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng lắng nghe và biểu đạt ý kiến, kĩ năng
trình bày suy nghĩ, ý tưởng, kĩ năng viết bài, kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm, kĩ
năng ra quyết định và giải quyết vấn đề,…
Ví dụ 1: Khi dạy bài “Tự chăm sóc rèn luyện thân thể” GDCD 6
Giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh tìm hiểu trước bài ở nhà.
+ Nhóm 1: Sưu tầm tranh ảnh, clip, bài viết về các hình thức luyện tập thể
dục, các môn thể thao và tác dụng của các luyện tập thể dục, thể thao.
+ Nhóm 2: Sưu tầm tranh ảnh, clip, bài viết về ăn uống điều độ, tác dụng ăn
uống điều độ…

11

+ Nhóm 3: Sưu tầm tranh ảnh, bài viết về biện pháp vệ sinh cá nhân, tác
dụng của vệ sinh cá nhân.
Khi đến tiết dạy giáo viên cho các nhóm trưng bày sản phẩm và đại diện
thuyết trình sản phẩm của nhóm.
Với sự chuẩn bị của các nhóm giáo viên ghép lại và rút ra kết luận các biện
pháp để chăm sóc và rèn luyện thân thể.
Với cách học nhóm như vậy học sinh được trải nghiệm vào thực tế và sáng
tạo sản phẩm của mình theo nhiều cách khác nhau như tạo video, phòng tranh,
thuyết trình, hùng biện cho sản phẩm của nhóm mình.
Ví dụ 2: Khi dạy bài “Yêu thương con người”
Giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh chuẩn bị trước bài ở nhà theo 3 nhóm:
+ Nhóm 1: Tìm hiểu giúp đỡ một bạn trong lớp, trường có hoàn cảnh khó
khăn (Đề ra được biện pháp giúp đỡ)
+ Nhóm 2: Tìm hiểu giúp đỡ bà mẹ Việt Nam anh hùng hoặc gia đình thương
binh liệt sĩ ở thôn, xóm hoặc địa phương em.

+ Nhóm 3: Tìm hiểu giúp đỡ một người tàn tật ở địa phương em.
Với sự chuẩn bị trước của các nhóm ở nhà, học sinh được tham gia vào các
hoạt động của nhóm mình, được trải nghiệm vào thực tế cuộc sống, học sinh sẽ
tự đề ra được các biện pháp để giúp đỡ, quan tâm, chăm sóc tới những người có
hoàn cảnh khó khăn ngay tại địa phương. Từ thực tế học sinh có thể hiểu thế nào
là yêu thương con người và yêu thương, quan tâm đến những người xung quanh
sẽ mang lại ý nghĩa như thế nào.
Ví dụ 3: Khi dạy bài “Tự Lập” phần luyện tập, củng cố
12

Giáo viên yêu cầu học sinh lập kế hoạch rèn luyện tính tự lập
Các lĩnh vực
Học tập
Lao động
Hoạt động tập thể
Sinh hoạt cá nhân

Nội dung công việc

Biện pháp thực hiện

Nhóm 1: Lĩnh vực học tập
Nhóm 2: Lĩnh vực lao động
Nhóm 3: Hoạt động tập thể
Nhóm 4: Sinh hoạt cá nhân.
Hoạt động nhóm là nơi để học sinh được thực hành các quyền trẻ em của
mình như quyền được học tập, quyền được vui chơi giải trí và tham gia các hoạt
động văn hóa, nghệ thuật; quyền được tự do biểu đạt; tìm kiếm, tiếp nhận và phổ
biến thông tin… Thông qua hoạt động của các nhóm, giáo viên hiểu và quan tâm

hơn đến nhu cầu, nguyện vọng mục đích chính đáng của các em.

13

3.2. Tổ chức trò chơi
Trò chơi là một loại hình hoạt động giải trí, thư giãn; là món ăn tinh thần
nhiều bổ ích và không thể thiếu được trong cuộc sống con người nói chung, đối
với học sinh nói riêng. Trò chơi là hình thức tổ chức các hoạt động vui chơi với
nội dung kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, có tác dụng giáo dục “chơi
mà học, học mà chơi”.
Trò chơi có thể được sử dụng trong nhiều tình huống khác nhau của hoạt
động trải nghiệm sáng tạo như làm quen, khởi động, dẫn nhập vào nội dung học
tập, cung cấp và tiếp nhận tri thức; đánh giá kết quả, rèn luyện các kĩ năng và
củng cố những tri thức đã được tiếp nhận,… Trò chơi giúp phát huy tính sáng
tạo, hấp dẫn và gây hứng thú cho học sinh; giúp học sinh dễ tiếp thu kiến thức
mới; giúp chuyển tải nhiều tri thức của nhiều lĩnh vực khác nhau; tạo được bầu
không khí thân thiện; tạo cho các em tác phong nhanh nhẹn.
Ví dụ 1: Khi dạy bài “Giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc”.
Ở tiết 2 của bài giáo viên có thể tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi dân
gian như: Kéo co, bịt mắt bắt dê, cướp cờ, nhảy bao bố, mèo đuổi chuột…
14

Ví dụ 2: Khi dạy bài “Pháp luật và kỉ luật” GDCD 8
Giáo viên tổ chức cho học sinh chơi trò chơi tiếp sức.
GV chia lớp thành 2 đội và mỗi đội khoảng 10 HS và qui định về thời gian. Lần
lượt từng học sinh lên bảng viết các câu ca dao, tục ngữ thành ngữ sau:
15

– Quân pháp bất vị thân.
– Phép vua thua lệ làng.
– Muốn tròn phải có khuôn
Muốn vuông phải có thước
– Đất có lề, quê có thói.
– Nước có vua, chùa có bụt.
– Tôn ti trật tự
Đội nào viết được nhiều nhất và đúng với nội dung và trong thời gian nhanh nhất
đội đó sẽ thắng cuộc.
3.3. Tổ chức diễn thuyết.
Diễn thuyết là một hình thức tổ chức hoạt động được sử dụng để thúc đẩy sự
tham gia của học sinh thông qua việc các em trực tiếp, chủ động bày tỏ ý kiến
của mình với đông đảo bạn bè, nhà trường, thầy cô giáo, cha mẹ và những người
lớn khác có liên quan. Diễn thuyết là một trong những hình thức tổ chức mang
lại hiệu quả giáo dục thiết thực. Thông qua diễn thuyết, học sinh có cơ hội bày tỏ
suy nghĩ, ý kiến, quan niệm hay những câu hỏi, đề xuất của mình về một vấn đề
nào đó có liên quan đến nhu cầu, hứng thú, nguyện vọng của các em. Đây cũng
là dịp để các em biết lắng nghe ý kiến, học tập lẫn nhau. Vì vậy, diễn thuyết như
một sân chơi tạo điều kiện để học sinh được biểu đạt ý kiến của mình một cách
trực tiếp với đông đảo bạn bè và những người khác. Diễn thuyết thường được tổ
chức rất linh hoạt, phong phú và đa dạng với những hình thức hoạt động cụ thể,
phù hợp với từng lứa tuổi học sinh.
Mục đích của việc tổ chức diễn thuyết là để tạo cơ hội, môi trường cho học
sinh được bày tỏ ý kiến về những vấn đề các em quan tâm, giúp các em khẳng
16

định vai trò và tiếng nói của mình, đưa ra những suy nghĩ và hành vi tích cực để
khẳng định vai trò và tiếng nói của mình, đưa ra những suy nghĩ và hành vi tích

cực để khẳng định mình. Qua các diễn thuyết, thầy cô giáo, cha mẹ học sinh và
những người lớn có liên quan nắm bắt được những băn khoăn, lo lắng và mong
đợi của các em về bạn bè, thầy cô, nhà trường và gia đình,… tăng cường cơ hội
giao lưu giữa người lớn và trẻ em, giữa trẻ em với trẻ em và thúc đẩy quyền trẻ
em trong trường học. Giúp học sinh thực hành quyền được bày tỏ ý kiến, quyền
được lắng nghe và quyền được tham gia.
Ví dụ 1: Khi dạy bài “Sống chan hòa với mọi người” giáo dục công dân lớp
6. Khi dạy phần rèn luyện để trở thành người sống chan hòa với mọi người.
Giáo viên yêu cầu học sinh chuẩn bị nội dung này ở nhà từ tiết học trước như
sưu tầm tranh ảnh các hoạt động học tham gia: Tham gia lao động vệ sinh đường
làng, trường lớp, học nhóm, giúp bạn học tập, tham gia các hoạt động tập thể…
Học sinh kết hợp tranh ảnh và bắt đầu phần thuyết trình của mình và đưa ra quan
điểm cá nhân về cách rèn luyện của bản thân cũng như kêu gọi mọi người hãy
tích cực sống chan hòa với mọi người…
Ví dụ 2: Khi dạy bài “Yêu thương con người” Giáo dục công dân 7. Giáo
viên khi dạy phần: Trách nhiệm của học sinh cùng với sự chuẩn bị trước của học
sinh ở nhà về tranh ảnh, clip về những hoàn cảnh khó khăn như trẻ em mồ côi,
người tàn tật, những người mắc bệnh hiểm nghèo, những người già leo đơn…kết
hợp với tranh ảnh, clip học sinh thuyết trình kêu gọi tất cả mọi người hãy mở
rộng tấm lòng nhân ái giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn, từ đó nói lên
trách nhiệm của học sinh cần phải làm gì, sống như thế nào để yêu thương mọi
người.

17

Ví dụ 3: Khi dạy bài “Yêu thiên nhiên sống hòa hợp với thiên nhiên” Giáo
dục công dân 6. Khi dạy phần: Biện pháp để bảo vệ thiên nhiên. Giáo viên gọi
đại diện học sinh thuyết trình các biện pháp để bảo vệ thiên nhiên một cách tốt
nhất trong giai đoạn hiện nay.

3.4. Sân khấu hóa
Sân khấu hóa là một hình thức nghệ thuật tương tác dựa trên hoạt động diễn
kịch, sắm vai trong tình huống. Phần trình diễn chính là một cuộc chia sẻ, thảo
luận giữa học sinh, trong đó đề cao tính tương tác hay sự tham gia của những học
sinh khác. Mục đích của hoạt động này là nhằm tăng cường nhận thức, thúc đẩy
để học sinh đưa ra quan điểm, suy nghĩ và cách xử lí tình huống thực tế gặp phải
trong bất kì nội dung nào của cuộc sống. Thông qua sân khấu hóa, sự tham gia
của học sinh được tăng cường và thúc đẩy, tạo cơ hội cho học sinh rèn luyện
những kĩ năng như: kĩ năng phát hiện vấn đề, kĩ năng phân tích vấn đề, kĩ năng
ra quyết định và giải quyết vấn đề, khả năng sáng tạo khi giải quyết tình huống.
Khi áp dụng sân khấu hóa vào tiết dạy giáo viên cần cho học sinh chuẩn bị
kịch bản, trang phục, đạo cụ trước ở nhà. Phòng học cần sắp xếp bàn ghế cho
khoa học để tạo không gian cho các em diễn và thuận lợi cho học sinh quan sát.

18

Ví dụ 1: Khi dạy bài “Khoan dung” Giáo dục công dân 7. Khi dạy phần khái
niệm khoan dung, trước khi tìm hiểu khái niệm giáo viên cho học sinh sắm vai
trong câu chuyện “Hãy tha lỗi cho em” SGK trang 23.
– Một em đóng vai cô Vân.
– Một em đóng vai khôi.
– Một em đóng vai bạn của khôi.
Sau khi học sinh xem xong tình huống giáo viên cho học sinh trả lời các câu
hỏi để nhận xét về các cách ứng xử của các nhân vật trong tình huống để từ đó
rút ra được sự khoan dung của cô giáo Vân đối với học sinh.
Ví dụ 2: Khi dạy bài “Tiết kiệm” giáo dục công dân 6.
Giáo viên cho học sinh sắm vai trong truyện đọc “Thảo và Hà”
– Một em đóng vai Thảo.

– Một em đóng vai Hà.
– Một em đóng vai mẹ Thảo.
– Một em đóng vai mẹ Hà
Sau khi học sinh xem xong tình huống giáo viên cho học sinh nhận xét về
hai nhân vật Thảo và Hà để thấy được sự tiết kiệm trong chi tiêu của nhân vật
Thảo. Từ đó học sinh hiểu thế nào là tiết kiệm.
Ví dụ 3: Khi dạy bài “Lễ độ”
Giáo viên cho học sinh sắm vai trong truyện đọc: Em Thủy
– Một em đóng vai Thủy
– Một em đóng vai anh Quang.
19

– Một em đóng vai bà Thủy
Sau khi học sinh xem xong tình huống giáo viên cho học sinh nhận xét cách
ứng xử của nhân vật Thủy, từ đó học sinh thấy được Thủy là một học sinh
ngoan, lễ phép, cư xử lễ độ với người lớn.

20

3.5. Tham quan.
Tham quan là một hình thức tổ chức học tập thực tế hấp dẫn đối với học
sinh. Mục đích của tham quan là để các em học sinh được đi thăm, tìm hiểu và
học hỏi kiến thức, tiếp xúc với các di tích lịch sử, văn hóa, ở nơi các em đang
sống, học tập, giúp các em có được những kinh nghiệm thực tế, từ đó có thể áp
dụng vào cuộc sống của chính các em.
Nội dung tham quan có tính giáo dục tổng hợp đối với học sinh như: giáo
dục lòng yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước, giáo dục truyền thống cách
mạng, truyền thống lịch sử. Các lĩnh vực tham quan có thể được tổ chức ở nhà

trường phổ thông là: Tham quan các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn
hóa; Tham quan các cơ sở sản xuất, làng nghề; Tham quan các Viện bảo tàng.
Ví dụ 1: Khi dạy bài “Giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình
và dòng họ”.
Giáo viên cho học sinh đi thăm quan trước một gia đình có nghề truyền
thống ở địa phương như nghề mộc, nghề làm thuốc gia truyền, nghề làm bánh
gai, bánh đậu xanh… hoặc một gia đình có truyền thống hiếu học…
Ví dụ 2: Bài “Bảo vệ di sản văn hóa” giáo viên cho học sinh đến thăm quan
trước một ngôi chùa, đền hoặc di tích lịch sử ở địa phương.
Ví dụ 3: Bài “Góp phần xây dựng nếp sống văn hóa ở cộng đồng dân cư”
giáo viên cho học sinh đến thăm quan một làng văn hóa ở ngay tại địa phương
mình.
Khi tham quan học sinh mang theo giấy bút để ghi chép những vấn đề được
quan sát và tự mình viết bài thu hoạch phục vụ cho tiết học đó.
21

22

3.6. Tổ chức hội thi.
Hội thi/cuộc thi là một trong những hình thức tổ chức hoạt động hấp dẫn, lôi
cuốn học sinh và đạt hiệu quả cao trong việc tập hợp, giáo dục, rèn luyện và định
hướng giá trị đạo đức cho học sinh. Hội thi mang tính chất thi đua giữa các cá
nhân, nhóm tạo không khí phấn khởi, vui tươi cho học sinh, làm bớt sự khô
khan, đơn điệu của bộ môn. Chính vì vậy, tổ chức hội thi cho học sinh là một yêu
cầu quan trọng, cần thiết trong quá trình tổ chức HĐTNST.
Mục đích tổ chức hội thi/cuộc thi nhằm lôi cuốn học sinh tham gia một cách
chủ động, tích cực vào các hoạt động dạy học; đáp ứng nhu cầu về vui chơi giải
trí cho học sinh; thu hút tài năng và sự sáng tạo của học sinh; phát triển khả năng

hoạt động tích cực và tương tác của học sinh, góp phần bồi dưỡng cho các em
động cơ học tập tích cực, kích thích hứng thú trong quá trình nhận thức. Hội thi
trong môn giáo dục công dân giáo viên có thể thực hiện vào các tiết thực hành,
ngoại khóa ở cuối học kì 1 và học kì 2.
Hội thi/ cuộc thi có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như:
Thi vẽ, thi viết, thi tìm hiểu, thi đố vui, thi giải ô chữ, thi tiểu phẩm, thi kể
chuyện, thi kể chuyện theo tranh… có nội dung về một chủ đề do giáo viên tự đề
ra trước cho học sinh để các em chuẩn bị, sưu tầm tranh ảnh, tài liệu…
4. Kết quả thực hiện.
Trong quá trình giảng dạy cho học sinh trải nghiệm và sáng tạo tôi nhận
thấy:
– Trải nghiệm sáng tạo luôn đem đến cho HS hứng thú học tập, học sinh được
thể hiện mình, được trải nghiệm vào thực tế và tự do sáng tạo.

23

– Qua các tiết học trải nghiệm sáng tạo các em cảm thấy tự tin hơn trong cuộc
sống và các em đã thực hiện tốt hơn các ứng xử đạo đức, cũng như thực thi pháp
luật trong cuộc sống
hằng ngày.
Điều tra trắc nghiệm trên phiếu điều tra.(Giữa kì I năm học 2015-2016)
Câu hỏi:
Câu hỏi 1. Hãy bày tỏ thái độ của em đối với việc học tập môn Giáo dục
công dân bằng cách trả lời các câu hỏi sau:
2. Bảng kết quả.
* Bước 1

Lớp
6A

6B
7A
7B
8A
8B
8C
9A
9B

Kết quả
Thái độ của em với bộ môn GDCD

Sĩ số
40
40
29
27
29
28
31
38
37

Yêu thích

Bình thường

35
36
25

24
28
27
29
32
35

5
4
4
3
2
1
2
5
2

Không thích

Không bày tỏ
thái độ

Kết quả khảo sát cho thấy các em cảm thấy hứng thú với cách thức sử
dụng bài tập tình huống trong giảng dạy môn Giáo dục công dân phần giáo dục
đạo đức. Tiết học sôi nổi, tích cực, các em đều mong chờ tiết học và đều mong
muốn thể hiện bản thân mình, nội dung dạy học trở nên nhẹ nhàng, hứng thú.
5. Bài học kinh nghiệm.
– Giáo viên phải hiểu rõ yêu cầu, cấu trúc cũng như cách sử dụng bài tập tình
huống trong giờ dạy của mình.
24

– GV phải dành nhiều thời gian chuẩn bị bài, đặc biệt sự chuẩn bị về nội dung
trải nghiệm phải phù hợp, vừa sức đối với học sinh.
– Nội dung trải nghiệm phải tập trung vào trọng tâm bài học, phải phù hợp với
điều kiện trường lớp.
– GV phải nắm rõ ý nghĩa thực tiễn, ý nghĩa giáo dục của trải nghiệm sáng tạo
đối với từng cá nhân HS.
– Khi sử dụng hình thức trải nghiệm sáng tạo giáo viên nên đa dạng hóa các
hình thức và phương pháp dạy học trong tiết học tạo ra sự hứng thú và thu hút
tất cả các em học sinh tham gia vào nội dung bài học, khiến cho tiết học sôi
nổi, hào hứng.
– Giáo viên cần có kĩ năng về công nghệ để có thể thực hiện và trình bày ý
tưởng của mình trên giáo án trình chiếu: kĩ năng khai thác thông tin, phim ảnh
qua mạng, sử dụng máy ảnh, quay phim…Để làm được điều này giáo viên phải
thực sự bỏ thời gian và có niềm hứng thú và tâm huyết với bộ môn.

6. Giáo án dạy thực nghiệm. GDCD 6
BÀI 8
SỐNG CHAN HOÀ VỚI MỌI NGƯỜI.
A. Mục tiêu bài học
1. Kiến thức
– Nhận biết thế nào là sống chan hoà với mọi người. Biểu hiện của lối sống chan
hoà với mọi người.
-Học sinh hiểu được sống chan hoà với mọi người tạo nên mối quan hệ tốt đẹp
giữa con người với con người.
25

cho học viên … Phương pháp dạy học thưởng thức phát minh sáng tạo trong môn giáodục công dân cung ứng được nhu yếu đó. 2. Điều kiện, thời hạn, đối tượng người tiêu dùng vận dụng sáng kiếna, Điều kiện vận dụng ý tưởng sáng tạo : trong những tiết dạy Giáo dục đào tạo công dân6, 7,8,9 phần đạo đức ở trường chúng tôi. b, Thời gian vận dụng sáng tạo độc đáo : Thực hiện trong năm học năm ngoái – năm nay. c, Đối tượng vận dụng sáng tạo độc đáo : Tất cả những khối lớp 6,7,8,9 phần chuẩnmực đạo đức3. Tính mới, tính phát minh sáng tạo của sáng tạo độc đáo. Áp dụng sáng tạo độc đáo trong trong thực tiễn giảng dạy, giáo viên đứng lớp của bộmôn Giáo dục đào tạo liên tục cho những em học viên được tham gia những hoạt độngtrải nghiệm vào trong thực tiễn đời sống tương thích thân mật, quen thuộc với những em trongcuộc sống vào những tiết học giáo dục công dân. Các em trong tiết học chuyển từtư thế bị động đảm nhiệm sang tư thế dữ thế chủ động lĩnh hội và sở hữu, những emđược tham gia vào những hoạt động giải trí để tìm ra bài học kinh nghiệm cho mình và củng cố khắc sâubài học. Cách học và rèn luyện thưởng thức phát minh sáng tạo khiến việc tiếp cận kiến thứcvốn khô khan, vốn lạ lẫm, trừu tượng trở nên dễ hiểu, dễ vận dụng, dễ thực hànhđiều chỉnh hành vi và bài học kinh nghiệm trở nên nhẹ nhàng hơn. Thông qua việc tham giavào những hoạt động giải trí thưởng thức phát minh sáng tạo, học viên được phát huy vai trò chủ thể, tính tích cực, dữ thế chủ động, tự giác và phát minh sáng tạo của bản thân. 4. Khẳng định giá trị và hiệu quả đạt được của sáng kiếnSáng kiến “ Dạy học theo giải pháp thưởng thức phát minh sáng tạo ” mang lạinhững lợi thế tiêu biểu vượt trội, tương hỗ và giảm áp lực đè nén cho những giáo viên đứng lớp và họcsinh, tăng hiệu suất cao cho tiết dạy, kiến thức và kỹ năng được truyền tải một cách nhẹ nhàng, sinh động, học viên hào hứng, thú vị, dữ thế chủ động tham gia sở hữu kiến thức và kỹ năng, dữ thế chủ động thể hiện, rèn luyện và tự biết kiểm soát và điều chỉnh hành vi. Mục tiêu của môn học, giáo viên thuận tiện đạt được trong tiết dạy : học sinhkhông chỉ hiểu chuẩn mực, nắm chuẩn mực mà xa hơn học viên hình thành ýthức thực thi chuẩn mực và kiểm soát và điều chỉnh hành vi của bản thân mình, điều chỉnhhành vi của mọi người xung quanh. Đó là nền tảng cơ bản góp thêm phần để thực hiệnmục tiêu giáo dục huấn luyện và đào tạo những con người có nhân cách, phẩm chất đạo đức tốt. 5. Đề xuất, yêu cầu để triển khai vận dụng hoặc lan rộng ra sáng kiếnĐối với ngành Giáo dục đào tạo cần trạng bị cho bộ môn những vật dụng, tài liệuđa dạng và tương thích cho bộ môn. + Cần có những kế hoạch học tập tu dưỡng thiết thực và hiệu suất cao chocác giáo viên bộ môn quan tâm nhiều đến kĩ năng thực hành thực tế để những giáo viên có cơhội học hỏi và trao đổi trình độ nhiệm vụ. – Đối với nhà trường : cần chăm sóc đúng mức với bộ môn, nhận thức bộmôn đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai tiềm năng giáo dục đạo đứctrong nhà trường + Đầu tư trang bị vật dụng, sách vở tương hỗ cho bộ môn. Trên đây là một vài quan điểm nhỏ của tôi nhằm mục đích góp thêm phần vào việc giảng dạymôn Giáo dục đào tạo công dân phần giáo dục chuẩn mực đạo đức theo hướng phát triểnnăng lực. Tôi rất mong được sự chăm sóc giúp sức và góp quan điểm của những cấp lãnhđạo và bè bạn đồng nghiệp. PHẦN 3M Ô TẢ SÁNG KIẾNA. PHẦN MỞ ĐẦU1. Hoàn cảnh nẩy sinh sáng kiếnTrong công cuộc thay đổi của ngành Giáo dục phổ thông, yên cầu sự đổimới nội dung, chương trình sách giáo khoa và giải pháp dạy – học theo địnhhướng tăng trưởng năng lượng học viên. Công cuộc thay đổi ấy xuất phát từ đòi hỏingày càng cao của xã hội trong giảng dạy con người Nước Ta mới. Nằm trong hệthống tiềm năng giáo dục ; bộ môn Giáo dục đào tạo công dân có một vị trí, vai trò vôcùng quan trọng trong việc hình thành, tăng trưởng nhân cách, góp thêm phần xây dựngtư cách và nghĩa vụ và trách nhiệm công dân cho học viên cũng như góp thêm phần quan trọng vàoviệc triển khai tiềm năng giáo dục tổng lực của nhà trường, của xã hội trong xuthế hội nhập. Đây là bộ môn cung ứng cho học viên một mạng lưới hệ thống những giá trị đạođức, pháp lý cơ bản ; cung ứng những chuẩn mực, lối sống tương thích với yêu cầucủa xã hội, trang bị cho học viên những kĩ năng ứng xử, thái độ sống đúng đắn, giúp học viên biết sống một cách tích cực và năng động góp thêm phần quan trọngtrong hình thành những năng lượng cơ bản của con người : Năng lực tự hoàn thành xong, năng lượng tiếp xúc, thích ứng, tổ chức triển khai quản trị và năng lượng hoạt động giải trí xã hội. Hoạt động giáo dục ở trường trung học cơ sở sau năm năm ngoái cần không cho niềm tin vàmục tiêu của Nghị Quyết số 29 – NQ / TW về : Đổi mới cơ bản, tổng lực giáo dụcvà đào tạo và giảng dạy, nghĩa là cần tổ chức triển khai những hoạt động giải trí giáo dục theo hướng tăng cườngsự thưởng thức, nhằm mục đích phát huy tính phát minh sáng tạo cho học viên, tạo ra những môi trườngkhác nhau để học viên được thưởng thức nhiều nhất, đồng thời là sự khởi nguồnsáng tạo, biến những sáng tạo độc đáo phát minh sáng tạo của học sinh thành hiện thực để những emthể hiện hết năng lực phát minh sáng tạo của mình. Đối với bộ môn giáo dục công dân hoạtđộng thưởng thức phát minh sáng tạo giúp học viên phải kinh qua trong thực tiễn, tham gia vàohoặc tiếp xúc đến những hoạt động giải trí giáo dục đạo đức và pháp lý trong nhà trườngvà xã hội để những em tự liên hệ bản thân vào thực tiễn tìm ra cái mới, cách giảiquyết mới không bị gò bó, nhờ vào vào cái đã có. Môn Giáo dục đào tạo công dân ở trường trung học cơ sở, nhiều giáo viên dạy bộmôn đã rất chăm sóc tìm tòi những biện pháp sư phạm nhằm mục đích gây hứng thú với họcsinh. Song trong nhiều năm trở về trước, hầu hết giáo viên dạy môn Giáo dục đào tạo côngdân chưa được huấn luyện và đào tạo trình độ và đôi lúc là những giáo viên dạy một mônchính và môn Giáo dục đào tạo công dân chỉ là môn dạy phụ của giáo viên, môn học phụcủa học viên. Giáo viên dạy bộ môn khi có sự đổi khác chương trình, nội dungvà giải pháp giảng dạy thì gặp nhiều khó khăn vất vả và lúng túng. Đổi mới nộidung, chương trình, sách giáo khoa và chiêu thức giảng dạy cũng kéo theonhận thức, hành vi của mọi người đều biến hóa. Hiện nay, việc khai thác mộtbài dạy như thế nào để truyền đạt nội dung kỹ năng và kiến thức bài học kinh nghiệm đến học viên mộtcách đơn thuần, nhẹ nhàng, dễ tiếp đón nhất vẫn là một nhu yếu so với những giáoviên dạy bộ môn Giáo dục đào tạo công dân2. Cơ sở lí luận của vấn đềHoạt động thưởng thức phát minh sáng tạo trong môn Giáo dục đào tạo công dân là những hoạtđộng giáo dục thực tiễn được triển khai song song với hoạt động giải trí dạy học trongnhà trường THCS. Hoạt động thưởng thức phát minh sáng tạo là một bộ phận của quá trìnhgiáo dục, được tổ chức triển khai trong giờ học và ngoài giờ học ở trên lớp và có mối quanhệ bổ trợ, tương hỗ cho hoạt động giải trí dạy học. Thông qua những hoạt động giải trí thực hành thực tế, những việc làm đơn cử và những hành vi của học viên, hoạt động giải trí trải nghiệmsáng tạo là những hoạt động giải trí giáo dục có mục tiêu, có tổ chức triển khai được triển khai nhằmphát triển, nâng cao những năng lực và tiềm năng của bản thân học viên, nuôi dưỡngý thức sống tự lập, đồng thời chăm sóc, san sẻ tới những người xung quanh. Thông qua việc tham gia vào những hoạt động giải trí thưởng thức phát minh sáng tạo, học viên đượcphát huy vai trò chủ thể, tính tích cực, dữ thế chủ động, tự giác và phát minh sáng tạo của bảnthân. Các em được dữ thế chủ động tham gia vào toàn bộ những khâu của quy trình hoạtđộng : từ phong cách thiết kế hoạt động giải trí đến chuẩn bị sẵn sàng, thực thi và nhìn nhận tác dụng hoạtđộng tương thích với đặc thù lứa tuổi và năng lực của bản thân. Các em được trảinghiệm, được bày tỏ quan điểm, ý tưởng sáng tạo, được nhìn nhận và lựa chọn ý tưởnghoạt động, được biểu lộ, tự chứng minh và khẳng định bản thân, được tự nhìn nhận và đánh giákết quả hoạt động giải trí của bản thân, của nhóm mình và của bè bạn … Từ đó, hìnhthành và tăng trưởng cho những em những giá trị đạo đức, ý thức chấp hành pháp luậtvà những năng lượng thiết yếu. Hoạt động thưởng thức phát minh sáng tạo trong môn giáo dụccông dân về cơ bản mang đặc thù của hoạt động giải trí tập thể, hoạt động giải trí nhóm trêntinh thần tự chủ, với sự nỗ lực giáo dục nhằm mục đích tăng trưởng năng lực phát minh sáng tạo và cátính riêng của mỗi cá thể trong tập thể. Hoạt động thưởng thức phát minh sáng tạo trong môn Giáo dục đào tạo công dân có nội dungrất phong phú và mang tính giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục kĩ năngsống, giáo dục giá trị sống, giáo dục nghệ thuật và thẩm mỹ, thẩm mĩ, giáo dục sức khỏe thể chất, giáodục lao động, giáo dục bảo đảm an toàn giao thông vận tải, giáo dục thiên nhiên và môi trường, giáo dục phòngchống ma túy, giáo dục phòng chống HIV / AIDS và tệ nạn xã hội. Nội dung giáo dục của hoạt động giải trí thưởng thức phát minh sáng tạo thiết thực và gần gũivới đời sống thực tiễn, cung ứng được nhu yếu hoạt động giải trí của học viên, giúp cácem vận dụng những hiểu biết của mình vào trong thực tiễn đời sống một cáchdễ dàng, thuận tiện. Hoạt động thưởng thức phát minh sáng tạo hoàn toàn có thể tổ chức triển khai theo những quy mô khác nhaunhư : theo nhóm, theo lớp, theo khối lớp. Tuy nhiên, tổ chức triển khai theo quy mô nhómvà quy mô lớp có lợi thế hơn về nhiều mặt như đơn thuần, không tốn kém, mất ítthời gian, học viên tham gia được nhiều hơn và có nhiều năng lực hình thành, tăng trưởng những năng lượng cho học viên hơn. 3. Thực trạng yếu tố. Thực trạng trong những năm biến hóa nội dung, chương trình, sáchgiáo khoa và chiêu thức giảng dạy. Giáo viên dạy bộ môn, học viên học bộmôn và đặc biệt quan trọng là cái nhìn của xã hội về vai trò của việc giáo dục đạo đức, pháp lý trong nhà trường đã đổi khác với xu thế tích cực. Quan niệm về mộtmôn dạy phụ, một môn học phụ đã được nhìn nhận đúng hơn. Tuy nhiên vấnđề trước hết được đặt ra với giáo viên đứng lớp ở bộ môn này là : làm thế nào đểthu hút học viên học bộ môn một cách dữ thế chủ động, tích cực và hứng thú, sôi nổitừ việc khai thác những nội dung thông tin có tương quan đến chủ đề bài học kinh nghiệm đếnrút ra những khái niệm hay nội dung thông tin cần cung ứng trong bài đến phầncủng cố tri thức, rèn kĩ năng, tăng trưởng xúc cảm, tình cảm, niềm tin, thúc đẩycác em tích cực rèn luyện theo những nhu yếu của chuẩn mực đạo đức và phápluật trong đời sống, vẫn là những yếu tố trăn trở và khó khăn vất vả so với đội ngũgiáo viên giảng dạy bộ môn Giáo dục đào tạo công dân trong những nhà trường phổthông. Thực trạng tiếp theo là một bộ phận lớn giáo viên và học viên vẫn coiđây là môn học phụ, môn dạy phụ thì không nhu yếu yên cầu khắc nghiệt, phải đầutư nhiều về thời hạn sức lực lao động và tận tâm. Chính thế cho nên mới có thực trạnggiáo viên chỉ dừng ở giải pháp phỏng vấn hoặc thuyết trình những khái niệmđạo đức và Pháp luật nên những em học viên không hiểu được cặn kẽ yếu tố dẫnđến thực trạng học sinh học thuộc lòng “ học vẹt ”, học thuộc kim chỉ nan mà khônghiểu vấn đề dẫn đến mau quên. Và học viên chỉ hiểu bộ môn học Giáo dụccông dân cũng như những môn học khác là chỉ cần nắm khái niệm – mục tiêugiáo dục của môn học chưa triển khai xong. Cho nên thực trạng đau lòng là những emđược học đạo đức, giáo dục đạo đức nhưng lại liên tục vi phạm đạo đức. Để biến hóa tình hình này, nhu yếu người Giáo viên dạy bộ môn cầnthực hiện tốt nghĩa vụ và trách nhiệm của mình, để thực sự môn Giáo dục đào tạo công dân trongnhà trường đổi khác cả về lượng và về chất. Việc dạy học thưởng thức phát minh sáng tạo trong môn giáo dục công dân là rấtcần thiết trong quá trình lúc bấy giờ. 4. Phương pháp điều tra và nghiên cứu. Trong khuôn khổ của đề tài, tôi đã triển khai những bước sau : 4.1. Phương pháp nghiên cứu và phân tích tổng hợp. – Đọc kĩ những tài liệu tìm hiểu thêm khi soạn giáo án để có những biện pháphướng dẫn đơn cử khi hướng dẫn những hoạt động giải trí học tập của học viên. – Khái quát thành những kĩ năng để giúp học viên thấy kiến thức và kỹ năng của bộmôn là thân thiện, trọn vẹn không lạ lẫm trong đời sống của những em và việc tiếp cậnphạm trù kiến thức và kỹ năng bộ môn trọn vẹn đơn thuần, dễ hiểu, dễ vận dụng. 4.2. Phương pháp khảo sát, phân loại. – Tìm hiểu đối tượng người dùng học viên qua giảng dạy. – Khảo sát tình hình dạy – học và phân loại đối tượng người tiêu dùng học viên theo từnggiai đoạn dạy và học. 4.3. Phương pháp thực nghiệm. – Thực nghiệm dạy, kiểm tra, thống kê hiệu quả thực nghiệm trên bài kiểmtra, trong cả quy trình dạy – học của học viên khi vận dụng. B. PHẦN NỘI DUNG1. Khảo sát, nhìn nhận tình hình việc học tập bộ môn của học viên. 1. Phương pháp khảo sát. Điều tra trắc nghiệm trên phiếu tìm hiểu. ( Đầu năm học năm trước – năm ngoái ) Câu hỏi : Câu hỏi 1. Hãy bày tỏ thái độ của em so với việc học tập môn Giáo dụccông dân bằng cách vấn đáp những câu hỏi sau : 2. Bảng hiệu quả. Bước 1L ớpSĩ sốYêu thích6A6B7A7B7C8A8B9A9BKết quảThái độ của em với bộ môn GDCDBình thường Không thíchKhông bày tỏ4020401929152710291537111637101738203721Thời gian khảo sát cuối học kỳ I – Năm học : năm trước – năm ngoái. thái độBước 2 : Câu hỏi 2 : Em có thích được học thưởng thức phát minh sáng tạo trong môn giáo dục côngdân không ? Em có thích được học thưởng thức phát minh sáng tạo trong môn giáo dụcLớp6A6B7A7B8A8B8C9ASĩcông dân không ? số4040292729283138Có4040292729283138KhôngKhông có câu trả lời9B3737Thời gian khảo sát cuối học kỳ I – Năm học : năm ngoái – năm nay. * Đánh giá. Qua tác dụng tìm hiểu ở bước 1 : cho ta thấy học viên không mấy mặn mà, hứng thú và thương mến so với bộ môn, những em chỉ coi bộ môn như toàn bộ những mônhọc trong nhà trường được nhu yếu trong chương trình học. Vai trò của bộ mônGiáo dục công dân trong nhà trường chưa phát huy hết trách nhiệm, tính năng củamình là phối phối hợp giáo dục và trang bị kiến thức và kỹ năng kĩ năng sống, ứng xử giaotiếp hình thành và triển khai xong nhân cách cho những em theo nhu yếu mới của xã hội. Kết quả khảo sát ở bảng 2 đã cho thấy, hầu hết học viên mong ước đượchọc thưởng thức phát minh sáng tạo. Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên do : – Nhiều thầy cô cũng ý niệm dạy môn phụ thì không cần khắc nghiệt vớicác em chỉ cần những em học thuộc kim chỉ nan là được. Đây cũng là lí do những emthường cảm thấy gặp khó khăn vất vả trong những bài học kinh nghiệm về đạo đức và Pháp luật. – Bản thân những bài học kinh nghiệm này vốn khô khan và khó nhớ. Và nếu giáo viênchỉ dừng ở chiêu thức phỏng vấn hoặc thuyết trình những khái niệm đạo đức vàPháp luật thì những em sẽ không hiểu được cặn kẽ vấn đề dẫn đến những em dễ rơivào thực trạng “ học vẹt ”, học thuộc triết lý mà không hiểu dẫn đến mauquên. – Giáo viên chưa tích cực cho học viên thưởng thức vào trong thực tiễn cuộc sốngcó thật vừa thân mật với những em trong khi bản thân những em rất khao khát đượctrải nghiệm và tham gia những hoạt động giải trí tương quan đến chuẩn mực. Từ tình hình trên, bản thân tôi mạnh dạn đưa ra 1 số giải pháp cụ thểgiúp học viên có niềm yêu dấu hơn trong học tập bộ môn cũng như vận dụngtốt hơn những chuẩn mực đạo đức vào thực tiễn đời sống. 102. Các hình thức tổ chức triển khai những hoạt động giải trí thưởng thức phát minh sáng tạo trong môn giáodục công dân. Hoạt động thưởng thức phát minh sáng tạo trong môn giáo dục công dân được tổ chứcdưới nhiều hình thức khác nhau như hoạt động giải trí nhóm, tổ chức triển khai game show, diễnthuyết, sân khấu hóa, thăm quan, chiến dịch. Mỗi hình thức hoạt động giải trí trên đềumang ý nghĩa giáo dục nhất định. Dưới đây là một số ít hình thức tổ chức triển khai của hoạtđộng thưởng thức phát minh sáng tạo trong môn giáo dục công dân. 3. Đưa những hoạt động giải trí thưởng thức vào bài dạy. 3.1. Hoạt động nhómTrong môn giáo dục công dân hoạt động giải trí của nhóm dưới sự khuynh hướng củagiáo viên nhằm mục đích tạo thiên nhiên và môi trường giao lưu thân thiện, tích cực giữa những học viên vớinhau. Hoạt động nhóm tạo thời cơ để học viên được san sẻ những kỹ năng và kiến thức, hiểubiết của mình về nghành mà những em chăm sóc, qua đó tăng trưởng những kĩ năng củahọc sinh như : kĩ năng tiếp xúc, kĩ năng lắng nghe và miêu tả quan điểm, kĩ năngtrình bày tâm lý, sáng tạo độc đáo, kĩ năng viết bài, kĩ năng hợp tác, thao tác nhóm, kĩnăng ra quyết định hành động và xử lý yếu tố, … Ví dụ 1 : Khi dạy bài “ Tự chăm nom rèn luyện thân thể ” GDCD 6G iáo viên giao trách nhiệm cho học viên tìm hiểu và khám phá trước bài ở nhà. + Nhóm 1 : Sưu tầm tranh vẽ, clip, bài viết về những hình thức rèn luyện thểdục, những môn thể thao và tính năng của những luyện tập thể dục, thể thao. + Nhóm 2 : Sưu tầm tranh vẽ, clip, bài viết về nhà hàng siêu thị điều độ, công dụng ănuống điều độ … 11 + Nhóm 3 : Sưu tầm tranh vẽ, bài viết về giải pháp vệ sinh cá thể, tácdụng của vệ sinh cá thể. Khi đến tiết dạy giáo viên cho những nhóm tọa lạc loại sản phẩm và đại diệnthuyết trình mẫu sản phẩm của nhóm. Với sự sẵn sàng chuẩn bị của những nhóm giáo viên ghép lại và rút ra Kết luận những biệnpháp để chăm nom và rèn luyện thân thể. Với cách học nhóm như vậy học viên được thưởng thức vào thực tiễn và sángtạo mẫu sản phẩm của mình theo nhiều cách khác nhau như tạo video, phòng tranh, thuyết trình, hùng biện cho mẫu sản phẩm của nhóm mình. Ví dụ 2 : Khi dạy bài “ Yêu thương con người ” Giáo viên giao trách nhiệm cho học viên sẵn sàng chuẩn bị trước bài ở nhà theo 3 nhóm : + Nhóm 1 : Tìm hiểu trợ giúp một bạn trong lớp, trường có thực trạng khókhăn ( Đề ra được giải pháp trợ giúp ) + Nhóm 2 : Tìm hiểu giúp sức bà mẹ Nước Ta anh hùng hoặc mái ấm gia đình thươngbinh liệt sĩ ở thôn, xóm hoặc địa phương em. + Nhóm 3 : Tìm hiểu trợ giúp một người tàn tật ở địa phương em. Với sự sẵn sàng chuẩn bị trước của những nhóm ở nhà, học viên được tham gia vào cáchoạt động của nhóm mình, được thưởng thức vào trong thực tiễn đời sống, học viên sẽtự đề ra được những giải pháp để giúp sức, chăm sóc, chăm nom tới những người cóhoàn cảnh khó khăn vất vả ngay tại địa phương. Từ thực tiễn học viên hoàn toàn có thể hiểu thế nàolà yêu thương con người và yêu thương, chăm sóc đến những người xung quanhsẽ mang lại ý nghĩa như thế nào. Ví dụ 3 : Khi dạy bài “ Tự Lập ” phần rèn luyện, củng cố12Giáo viên nhu yếu học viên lập kế hoạch rèn luyện tính tự lậpCác lĩnh vựcHọc tậpLao độngHoạt động tập thểSinh hoạt cá nhânNội dung công việcBiện pháp thực hiệnNhóm 1 : Lĩnh vực học tậpNhóm 2 : Lĩnh vực lao độngNhóm 3 : Hoạt động tập thểNhóm 4 : Sinh hoạt cá thể. Hoạt động nhóm là nơi để học viên được thực hành thực tế những quyền trẻ nhỏ củamình như quyền được học tập, quyền được đi dạo vui chơi và tham gia những hoạtđộng văn hóa truyền thống, nghệ thuật và thẩm mỹ ; quyền được tự do diễn đạt ; tìm kiếm, đảm nhiệm và phổbiến thông tin … Thông qua hoạt động giải trí của những nhóm, giáo viên hiểu và quan tâmhơn đến nhu yếu, nguyện vọng mục tiêu chính đáng của những em. 133.2. Tổ chức trò chơiTrò chơi là một mô hình hoạt động giải trí vui chơi, thư giãn giải trí ; là món ăn tinh thầnnhiều hữu dụng và không hề thiếu được trong đời sống con người nói chung, đốivới học viên nói riêng. Trò chơi là hình thức tổ chức triển khai những hoạt động giải trí đi dạo vớinội dung kỹ năng và kiến thức thuộc nhiều nghành nghề dịch vụ khác nhau, có công dụng giáo dục “ chơimà học, học mà chơi ”. Trò chơi hoàn toàn có thể được sử dụng trong nhiều trường hợp khác nhau của hoạtđộng thưởng thức phát minh sáng tạo như làm quen, khởi động, dẫn nhập vào nội dung họctập, phân phối và đảm nhiệm tri thức ; nhìn nhận hiệu quả, rèn luyện những kĩ năng vàcủng cố những tri thức đã được đảm nhiệm, … Trò chơi giúp phát huy tính sángtạo, mê hoặc và gây hứng thú cho học viên ; giúp học viên dễ tiếp thu kiến thứcmới ; giúp chuyển tải nhiều tri thức của nhiều nghành khác nhau ; tạo được bầukhông khí thân thiện ; tạo cho những em tác phong nhanh gọn. Ví dụ 1 : Khi dạy bài “ Giữ gìn và phát huy truyền thống lịch sử tốt đẹp của dân tộc bản địa ”. Ở tiết 2 của bài giáo viên hoàn toàn có thể tổ chức triển khai cho học viên chơi những game show dângian như : Kéo co, bịt mắt bắt dê, cướp cờ, nhảy bao bố, mèo đuổi chuột … 14V í dụ 2 : Khi dạy bài “ Pháp luật và kỉ luật ” GDCD 8G iáo viên tổ chức triển khai cho học viên chơi game show tiếp sức. GV chia lớp thành 2 đội và mỗi đội khoảng chừng 10 HS và qui định về thời hạn. Lầnlượt từng học viên lên bảng viết những câu ca dao, tục ngữ thành ngữ sau : 15 – Quân pháp bất vị thân. – Phép vua thua lệ làng. – Muốn tròn phải có khuônMuốn vuông phải có thước – Đất có lề, quê có thói. – Nước có vua, chùa có bụt. – Tôn ti trật tựĐội nào viết được nhiều nhất và đúng với nội dung và trong thời hạn nhanh nhấtđội đó sẽ thắng cuộc. 3.3. Tổ chức diễn thuyết. Diễn thuyết là một hình thức tổ chức triển khai hoạt động giải trí được sử dụng để thôi thúc sựtham gia của học viên trải qua việc những em trực tiếp, dữ thế chủ động bày tỏ ý kiếncủa mình với phần đông bè bạn, nhà trường, thầy cô giáo, cha mẹ và những ngườilớn khác có tương quan. Diễn thuyết là một trong những hình thức tổ chức triển khai manglại hiệu suất cao giáo dục thiết thực. Thông qua diễn thuyết, học viên có thời cơ bày tỏsuy nghĩ, quan điểm, ý niệm hay những câu hỏi, yêu cầu của mình về một vấn đềnào đó có tương quan đến nhu yếu, hứng thú, nguyện vọng của những em. Đây cũnglà dịp để những em biết lắng nghe quan điểm, học tập lẫn nhau. Vì vậy, diễn thuyết nhưmột sân chơi tạo điều kiện kèm theo để học viên được diễn đạt quan điểm của mình một cáchtrực tiếp với phần đông bè bạn và những người khác. Diễn thuyết thường được tổchức rất linh động, phong phú và đa dạng và phong phú với những hình thức hoạt động giải trí đơn cử, tương thích với từng lứa tuổi học viên. Mục đích của việc tổ chức triển khai diễn thuyết là để tạo thời cơ, môi trường tự nhiên cho họcsinh được bày tỏ quan điểm về những yếu tố những em chăm sóc, giúp những em khẳng16định vai trò và lời nói của mình, đưa ra những tâm lý và hành vi tích cực đểkhẳng định vai trò và lời nói của mình, đưa ra những tâm lý và hành vi tíchcực để chứng minh và khẳng định mình. Qua những diễn thuyết, thầy cô giáo, cha mẹ học viên vànhững người lớn có tương quan chớp lấy được những do dự, lo ngại và mongđợi của những em về bè bạn, thầy cô, nhà trường và mái ấm gia đình, … tăng cường cơ hộigiao lưu giữa người lớn và trẻ nhỏ, giữa trẻ nhỏ với trẻ nhỏ và thôi thúc quyền trẻem trong trường học. Giúp học viên thực hành thực tế quyền được bày tỏ quan điểm, quyềnđược lắng nghe và quyền được tham gia. Ví dụ 1 : Khi dạy bài “ Sống chan hòa với mọi người ” giáo dục công dân lớp6. Khi dạy phần rèn luyện để trở thành người sống chan hòa với mọi người. Giáo viên nhu yếu học viên chuẩn bị sẵn sàng nội dung này ở nhà từ tiết học trước nhưsưu tầm tranh vẽ những hoạt động học tham gia : Tham gia lao động vệ sinh đườnglàng, trường học, học nhóm, giúp bạn học tập, tham gia những hoạt động giải trí tập thể … Học sinh tích hợp tranh vẽ và mở màn phần thuyết trình của mình và đưa ra quanđiểm cá thể về cách rèn luyện của bản thân cũng như lôi kéo mọi người hãytích cực sống chan hòa với mọi người … Ví dụ 2 : Khi dạy bài “ Yêu thương con người ” Giáo dục đào tạo công dân 7. Giáoviên khi dạy phần : Trách nhiệm của học viên cùng với sự chuẩn bị sẵn sàng trước của họcsinh ở nhà về tranh vẽ, clip về những thực trạng khó khăn vất vả như trẻ nhỏ mồ côi, người tàn tật, những người mắc bệnh hiểm nghèo, những người già leo đơn … kếthợp với tranh vẽ, clip học viên thuyết trình lôi kéo tổng thể mọi người hãy mởrộng tấm lòng nhân ái trợ giúp những người có thực trạng khó khăn vất vả, từ đó nói lêntrách nhiệm của học viên cần phải làm gì, sống như thế nào để yêu thương mọingười. 17V í dụ 3 : Khi dạy bài “ Yêu vạn vật thiên nhiên sống hòa hợp với vạn vật thiên nhiên ” Giáodục công dân 6. Khi dạy phần : Biện pháp để bảo vệ vạn vật thiên nhiên. Giáo viên gọiđại diện học viên thuyết trình những giải pháp để bảo vệ vạn vật thiên nhiên một cách tốtnhất trong quy trình tiến độ lúc bấy giờ. 3.4. Sân khấu hóaSân khấu hóa là một hình thức nghệ thuật và thẩm mỹ tương tác dựa trên hoạt động giải trí diễnkịch, sắm vai trong trường hợp. Phần trình diễn chính là một cuộc san sẻ, thảoluận giữa học viên, trong đó tôn vinh tính tương tác hay sự tham gia của những họcsinh khác. Mục đích của hoạt động giải trí này là nhằm mục đích tăng cường nhận thức, thúc đẩyđể học viên đưa ra quan điểm, tâm lý và cách xử lí trường hợp thực tiễn gặp phảitrong bất kỳ nội dung nào của đời sống. Thông qua sân khấu hóa, sự tham giacủa học viên được tăng cường và thôi thúc, tạo thời cơ cho học viên rèn luyệnnhững kĩ năng như : kĩ năng phát hiện yếu tố, kĩ năng nghiên cứu và phân tích yếu tố, kĩ năngra quyết định hành động và xử lý yếu tố, năng lực phát minh sáng tạo khi xử lý trường hợp. Khi vận dụng sân khấu hóa vào tiết dạy giáo viên cần cho học viên chuẩn bịkịch bản, phục trang, đạo cụ trước ở nhà. Phòng học cần sắp xếp bàn và ghế chokhoa học để tạo khoảng trống cho những em diễn và thuận tiện cho học viên quan sát. 18V í dụ 1 : Khi dạy bài “ Khoan dung ” Giáo dục đào tạo công dân 7. Khi dạy phần kháiniệm khoan dung, trước khi khám phá khái niệm giáo viên cho học viên sắm vaitrong câu truyện “ Hãy tha lỗi cho em ” SGK trang 23. – Một em đóng vai cô Vân. – Một em đóng vai khôi. – Một em đóng vai bạn của khôi. Sau khi học viên xem xong trường hợp giáo viên cho học viên vấn đáp những câuhỏi để nhận xét về những cách ứng xử của những nhân vật trong trường hợp để từ đórút ra được sự khoan dung của cô giáo Vân so với học viên. Ví dụ 2 : Khi dạy bài “ Tiết kiệm ” giáo dục công dân 6. Giáo viên cho học viên sắm vai trong truyện đọc “ Thảo và Hà ” – Một em đóng vai Thảo. – Một em đóng vai Hà. – Một em đóng vai mẹ Thảo. – Một em đóng vai mẹ HàSau khi học viên xem xong trường hợp giáo viên cho học viên nhận xét vềhai nhân vật Thảo và Hà để thấy được sự tiết kiệm ngân sách và chi phí trong tiêu tốn của nhân vậtThảo. Từ đó học viên hiểu thế nào là tiết kiệm ngân sách và chi phí. Ví dụ 3 : Khi dạy bài “ Lễ độ ” Giáo viên cho học viên sắm vai trong truyện đọc : Em Thủy – Một em đóng vai Thủy – Một em đóng vai anh Quang. 19 – Một em đóng vai bà ThủySau khi học viên xem xong trường hợp giáo viên cho học viên nhận xét cáchứng xử của nhân vật Thủy, từ đó học viên thấy được Thủy là một học sinhngoan, lễ phép, cư xử lễ độ với người lớn. 203.5. Tham quan. Tham quan là một hình thức tổ chức triển khai học tập trong thực tiễn mê hoặc so với họcsinh. Mục đích của thăm quan là để những em học viên được đi thăm, tìm hiểu và khám phá vàhọc hỏi kỹ năng và kiến thức, tiếp xúc với những di tích lịch sử lịch sử vẻ vang, văn hóa truyền thống, ở nơi những em đangsống, học tập, giúp những em có được những kinh nghiệm tay nghề thực tiễn, từ đó hoàn toàn có thể ápdụng vào đời sống của chính những em. Nội dung thăm quan có tính giáo dục tổng hợp so với học viên như : giáodục lòng yêu vạn vật thiên nhiên, quê nhà, quốc gia, giáo dục truyền thống cuội nguồn cáchmạng, truyền thống lịch sử lịch sử vẻ vang. Các nghành nghề dịch vụ du lịch thăm quan hoàn toàn có thể được tổ chức triển khai ở nhàtrường đại trà phổ thông là : Tham quan những danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử lịch sử vẻ vang, vănhóa ; Tham quan những cơ sở sản xuất, làng nghề ; Tham quan những Viện bảo tàng. Ví dụ 1 : Khi dạy bài “ Giữ gìn và phát huy truyền thống lịch sử tốt đẹp của gia đìnhvà dòng họ ”. Giáo viên cho học viên đi thăm quan trước một mái ấm gia đình có nghề truyềnthống ở địa phương như nghề mộc, nghề làm thuốc gia truyền, nghề làm bánhgai, bánh đậu xanh … hoặc một mái ấm gia đình có truyền thống cuội nguồn hiếu học … Ví dụ 2 : Bài “ Bảo vệ di sản văn hóa truyền thống ” giáo viên cho học viên đến thăm quantrước một ngôi chùa, đền hoặc di tích lịch sử lịch sử dân tộc ở địa phương. Ví dụ 3 : Bài “ Góp phần kiến thiết xây dựng nếp sống văn hóa truyền thống ở hội đồng dân cư ” giáo viên cho học viên đến thăm quan một làng văn hóa truyền thống ở ngay tại địa phươngmình. Khi du lịch thăm quan học viên mang theo giấy bút để ghi chép những yếu tố đượcquan sát và tự mình viết bài thu hoạch ship hàng cho tiết học đó. 21223.6. Tổ chức hội thi. Hội thi / cuộc thi là một trong những hình thức tổ chức triển khai hoạt động giải trí mê hoặc, lôicuốn học viên và đạt hiệu suất cao cao trong việc tập hợp, giáo dục, rèn luyện và địnhhướng giá trị đạo đức cho học viên. Hội thi mang đặc thù thi đua giữa những cánhân, nhóm tạo không khí phấn khởi, vui mừng cho học viên, làm bớt sự khôkhan, đơn điệu của bộ môn. Chính thế cho nên, tổ chức triển khai hội thi cho học viên là một yêucầu quan trọng, thiết yếu trong quy trình tổ chức triển khai HĐTNST.Mục đích tổ chức triển khai hội thi / cuộc thi nhằm mục đích hấp dẫn học viên tham gia một cáchchủ động, tích cực vào những hoạt động giải trí dạy học ; phân phối nhu yếu về đi dạo giảitrí cho học viên ; lôi cuốn năng lực và sự phát minh sáng tạo của học viên ; tăng trưởng khả nănghoạt động tích cực và tương tác của học viên, góp thêm phần tu dưỡng cho những emđộng cơ học tập tích cực, kích thích hứng thú trong quy trình nhận thức. Hội thitrong môn giáo dục công dân giáo viên hoàn toàn có thể triển khai vào những tiết thực hành, ngoại khóa ở cuối học kì 1 và học kì 2. Hội thi / cuộc thi hoàn toàn có thể được triển khai dưới nhiều hình thức khác nhau như : Thi vẽ, thi viết, thi tìm hiểu và khám phá, thi đố vui, thi giải ô chữ, thi tiểu phẩm, thi kểchuyện, thi kể chuyện theo tranh … có nội dung về một chủ đề do giáo viên tự đềra trước cho học viên để những em sẵn sàng chuẩn bị, sưu tầm tranh vẽ, tài liệu … 4. Kết quả thực thi. Trong quy trình giảng dạy cho học viên thưởng thức và phát minh sáng tạo tôi nhậnthấy : – Trải nghiệm phát minh sáng tạo luôn đem đến cho HS hứng thú học tập, học viên đượcthể hiện mình, được thưởng thức vào trong thực tiễn và tự do phát minh sáng tạo. 23 – Qua những tiết học thưởng thức phát minh sáng tạo những em cảm thấy tự tin hơn trong cuộcsống và những em đã triển khai tốt hơn những ứng xử đạo đức, cũng như thực thi phápluật trong cuộc sốnghằng ngày. Điều tra trắc nghiệm trên phiếu tìm hiểu. ( Giữa kì I năm học năm ngoái – năm nay ) Câu hỏi : Câu hỏi 1. Hãy bày tỏ thái độ của em so với việc học tập môn Giáo dụccông dân bằng cách vấn đáp những câu hỏi sau : 2. Bảng tác dụng. * Bước 1L ớp6A6B7A7B8A8B8C9A9BKết quảThái độ của em với bộ môn GDCDSĩ số404029272928313837Yêu thíchBình thường353625242827293235Không thíchKhông bày tỏthái độKết quả khảo sát cho thấy những em cảm thấy hứng thú với phương pháp sửdụng bài tập trường hợp trong giảng dạy môn Giáo dục đào tạo công dân phần giáo dụcđạo đức. Tiết học sôi sục, tích cực, những em đều mong đợi tiết học và đều mongmuốn bộc lộ bản thân mình, nội dung dạy học trở nên nhẹ nhàng, hứng thú. 5. Bài học kinh nghiệm tay nghề. – Giáo viên phải hiểu rõ nhu yếu, cấu trúc cũng như cách sử dụng bài tập tìnhhuống trong giờ dạy của mình. 24 – GV phải dành nhiều thời hạn sẵn sàng chuẩn bị bài, đặc biệt quan trọng sự sẵn sàng chuẩn bị về nội dungtrải nghiệm phải tương thích, vừa sức so với học viên. – Nội dung thưởng thức phải tập trung chuyên sâu vào trọng tâm bài học kinh nghiệm, phải tương thích vớiđiều kiện trường học. – GV phải nắm rõ ý nghĩa thực tiễn, ý nghĩa giáo dục của thưởng thức sáng tạođối với từng cá thể HS. – Khi sử dụng hình thức thưởng thức phát minh sáng tạo giáo viên nên đa dạng hóa cáchình thức và chiêu thức dạy học trong tiết học tạo ra sự hứng thú và thu húttất cả những em học viên tham gia vào nội dung bài học kinh nghiệm, khiến cho tiết học sôinổi, hào hứng. – Giáo viên cần có kĩ năng về công nghệ tiên tiến để hoàn toàn có thể thực thi và trình diễn ýtưởng của mình trên giáo án trình chiếu : kĩ năng khai thác thông tin, phim ảnhqua mạng, sử dụng máy ảnh, quay phim … Để làm được điều này giáo viên phảithực sự bỏ thời hạn và có niềm hứng thú và tận tâm với bộ môn. 6. Giáo án dạy thực nghiệm. GDCD 6B ÀI 8S ỐNG CHAN HOÀ VỚI MỌI NGƯỜI.A. Mục tiêu bài học1. Kiến thức – Nhận biết thế nào là sống chan hoà với mọi người. Biểu hiện của lối sống chanhoà với mọi người. – Học sinh hiểu được sống chan hoà với mọi người tạo nên mối quan hệ tốt đẹpgiữa con người với con người. 25

5/5 - (1 vote)
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments