Shu là gì? Chi tiết về Shu mới nhất 2021

Shu

Thần gió và không khí

Shu with feather.svg
Thần Shu với lông vũ trên đầu .

Tên trong chữ tượng hình Ai Cập

N37
H6
G43
A40

Trung tâm tôn giáo lớn

Heliopolis, Leontopolis

Biểu tượng
Lông vũ (như Ma’at)

Phối ngẫu
Tefnut

Cha mẹ

Atum và Iusaaset

Anh chị em
Tefnut

Hậu duệ

Nut và Geb

Lễ hội
Thông tin cá nhân

Shu ( ; có nghĩa là “khoảng không trống rỗng) là một trong số các vị thần nguyên thủy trong Thần thoại Ai Cập, là hiện thân của không khí, ở thành phố Heliopolis.

Ông là một vị thần trong Bộ 9 vĩ đại của Heliopolis.

Mục lục

  • 1 Biểu tượng
  • 2 Gia đình
  • 3 Vai trò
  • 4 Thần thoại
  • 5 Thờ cúng
  • 6 Chú thích
  • 7 Tham khảo

Biểu tượng

[sửa|sửa mã nguồn]

Shu được miêu tả trong nhiều bức vẽ như là một người mang một chiếc lông ngỗng trên đầu. Cũng đôi khi người ta bắt gặp ông với hình ảnh có 4 cọng lông ngỗng trên đầu, trong hình ảnh này thì ông liên kết với thần chiến tranh Anhur.

Gia đình

[sửa|sửa mã nguồn]

Ông được sinh ra bởi cha là Atum và mẹ là nữ thần Iusaaset, với người chị / em gái, đồng thời là vợ mình, Tefnut, nữ thần của Độ ẩm. Có thuyết cho rằng, Atum đã tự tạo ra 2 người con của mình bằng cách khạc nhổ hay thủ dâm [ 1 ] .
Ông là cha của thần mặt đất Geb và nữ thần khung trời Nut. Về sau, Nut và Geb lại kết hôn, sinh ra Osiris, Isis, Seth và Nephthys. Chắt của ông là Horus và Anubis .

Vai trò

[sửa|sửa mã nguồn]

Ông cũng là vị thần của ánh sáng, nhưng không phải là thần mặt trời. Sự chiếu sáng của ông xóa tan đi bóng tối của sự hỗn loạn, chia cách ngày và đêm, tách biệt dương trần với âm ti. Shu cũng link ngặt nghèo với thần Ra. Ông cũng là một trong những vị thần trên con thuyền mặt trời, giúp Ra đánh đuổi con rắn quỷ Apep, đem ánh mặt trời vào mỗi bình minh [ 1 ] .
Đôi khi, ông được coi là vị thần của những cơn gió [ 2 ]. Là một thần gió, ông đem lại sự mát dịu cho quả đât, cấp thêm gió cho những chiếc thuyền xuôi dòng sông Nile. Shu được coi như hình tượng của sự bình tĩnh, làm xoa dịu mọi thứ và là người lập lại độc lập. Những đám mây được coi là xương của ông, được xem là những nấc thang để đưa linh hồn người chết về thiên đường .
Shu là vị pharaoh thứ 2 quản lý sau Atum-Ra. Tuy nhiên, con rắn quỷ Apep và những người theo phe nó khởi đầu chống phá lại ông. Sau khi vượt mặt được Apep và tay sai, Shu trở nên yếu ớt và đã truyền ngôi lại cho Geb. Ông quay về thiên đường, bảo vệ ánh sáng mặt trời và lại liên tục chiến đấu với Apep hằng đêm .Ông cũng là một vị thẩm phán dưới âm ti Duat, phán xét những linh hồn người chết tại “ Đại sảnh của Ma’at ”. Shu được cho là ghê tởm với sự tham nhũng .

Thần thoại

[sửa|sửa mã nguồn]

Theo thần thoại cổ xưa, khi thấy Geb và Nut ôm nhau say đắm, thần Ra vô cùng tức giận đã lệnh cho Shu phải chia tách họ ra. Ông đứng giữa 2 người con của mình, nâng nữ thần Nut lên cao, tạo ra bầu không khí, giúp sự sống tăng trưởng [ 3 ] [ 1 ] .
Trong một câu truyện truyền thuyết thần thoại khác, Shu và Tefnut đã ra đi để tò mò vùng biển Nun. Ra ( hoặc Atum ) rất nhớ họ, cho rằng cả 2 đã bị lạc nên ông đã gửi thần Mắt đi tìm họ. Khi cả 2 quay về, niềm hạnh phúc vì sum vầy, Ra khóc rất nhiều và những giọt nước mắt đó tạo ra những con người tiên phong [ 1 ] .
Một thần thoại cổ xưa khác nói rằng, Tefnut vì bất hòa với cha mình, Ra, nên bà đã rời bỏ Ai Cập, mang theo nguồn nước tới Nubia. Thoth và Shu được phái đến để thuyết phục bà quay trở lại. Khi bà đồng ý chấp thuận quay về, Shu đã kết hôn với Tefnut. Bởi vì điều này mà ông có tương quan ngặt nghèo với thần thợ săn Anhur ( có nghĩa là “ Người mang trở lại những gì xa cách ” ), có vợ là nữ thần sư tử Menhit, cũng bỏ đi tới Nubia và cũng phải quay về [ 1 ] .

Thờ cúng

[sửa|sửa mã nguồn]

200px Tutankhamun headrest

Thần Shu mang khung trời trên đầu .Không có bất kể đền thờ nào dành riêng cho Shu, nhưng ông được tôn kính trên khắp Ai Cập. Tại Iunet, có một nơi gọi là “ Nhà của Shu ” và tại Djeba, cũng có một nơi gọi là “ Chỗ ngồi của Shu ” .
Dưới thời “ dị giáo ” Akhenaton, ông và hoàng hậu Nefertiti tự coi mình là hiện thân của Shu và Tefnut .

Chú thích

[sửa|sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c
    “ Gods of Ancient Egypt : Shu ” .
  2. ^

    Owusu, Heike. Egyptian Symbols. Sterling Publishing Co. Inc. tr. 99.

  3. ^

    Dunan, Francoise (2004). Myth and mythmaking in ancient Egypt. Ithaca and London: Cornell University Press. tr. 41

Tham khảo

[sửa|sửa mã nguồn]

  • Hans Bonnet: Lexikon der ägyptischen Religionsgeschichte, Berlin 2000, ISBN 3-937872-08-6, S. 685-689
  • Adolf Erman: Die Aegyptische Religion, Verlag Georg Reimer, Berlin 1909
  • Wolfgang Helck: Kleines Lexikon der Ägyptologie, 1999 ISBN 3-447-04027-0, S. 269f.

4.5/5 - (2 votes)
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments