Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học văn (chuẩn)

Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học văn (chuẩn)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.14 MB, 27 trang )

1. Phần mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội. Đây là môn học có vai trò
rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của con người. Đồng thời
môn học này có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm
cho học sinh. Mặt khác nó cũng là môn học thuộc nhóm công cụ, môn Văn còn thể
hiện rõ mối quan hệ với rất nhiều các môn học khác trong các nhà trường phổ thông.
Học tốt môn Văn sẽ tác động tích cực tới các môn học khác và ngược lại, các môn
học khác cũng góp phần học tốt môn Văn. Điều đó đặt ra yêu cầu tăng cường tính
thực hành, giảm lí thuyết, gắn học với hành, gắn kiến thức với thực tiễn hết sức
phong phú, sinh động của cuộc sống .
Lâu nay, trong quá trình dạy học nói chung và giảng dạy bộ môn Ngữ văn nói
riêng, chúng ta vẫn thường sử dụng các mô hình, sơ đồ, biểu đồ… để cô đọng, khái
quát kiến thức cho học sinh, nhất là ở những bài tổng kết các chương, các phần, chủ
đề của môn học hay các bài ôn tập. Cách làm này có thể nói đã đem lại những hiệu
quả thiết thực nhất định trong việc ôn tập, củng cố, hệ thống kiến thức cho học sinh
bởi cách trình bày gọn, rõ, lô-gic. Thế nhưng, bên cạnh những ưu điểm ấy, cách làm
này vẫn còn những hạn chế nhất định, bởi trước hết là cả lớp cùng có chung cách
trình bày giống như cách của giáo viên hoặc của tài liệu, chứ không phải do học sinh
tự xây dựng theo cách hiểu của mình. Các bảng biểu đó chưa chú ý đến hình ảnh,
màu sắc và đường nét. Cách làm này chưa thật sự phát huy được tư duy sáng tạo,
chưa thật sự kích thích, lôi cuốn được các em trong việc tích cực, chủ động tìm tòi,
phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức của bài học. Hơn nữa, phạm vi sử dụng hẹp vì
chúng ta chỉ sử dụng chúng trong một số tiết dạy có tính chất tổng kết các chương,
các phần, các mảng kiến thức của môn học hay các bài ôn tập mà thôi chứ chúng
không được sử dụng đại trà cho tất cả các bài học, các giờ lên lớp cũng như các khâu
của tiến trình bài dạy.
Trong thời gian gần đây, chúng ta đã bước đầu được tiếp cận với những phương
pháp, kĩ thuật dạy học mới. Trong đó có việc sử dụng sơ đồ tư duy (SĐTD). Có thể
nói, đây là một bước tiến đáng kể trong việc đổi mới PPDH hiện nay khi mà khoa học
công nghệ phát triển như huyền thoại, nhất là sự bùng nổ của ngành Công nghệ thông

tin. Việc sử dụng SĐTD thay thế cho những mô hình, sơ đồ, biểu đồ… đã lạc hậu, lỗi
thời để khái quát, cô đọng kiến thức cho học sinh là một sự tất yếu, bởi SĐTD có rất
nhiều điểm ưu việt hơn. Do đó, việc ứng dụng SĐTD vào trong quá trình dạy học
môn Ngữ văn không chỉ lôi cuốn sự hứng thú, làm “sống lại” niềm đam mê, yêu thích
môn học ở các em học sinh mà còn làm dấy lên một “phong trào” đưa SĐTD vào bài
giảng ở giáo viên.
Tuy nhiên, hiện nay, việc đưa Sơ đồ tư duy vào ứng dụng trong quá trình dạy
học đối với môn học Ngữ văn còn là vấn đề gặp không ít khó khăn, trở ngại đối
với giáo viên, cụ thể như trong việc tổ chức, thiết kế các hoạt động dạy học với
việc sử dụng SĐTD. Qua dự giờ, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn đối với các
đồng nghiệp trong tổ, trong trường, tôi nhận thấy, hầu hết giáo viên mới chỉ dừng
lại ở việc sử dụng SĐTD để hệ thống hóa kiến thức sau mỗi bài học, hay mỗi bài
ôn tập, tổng kết một phân môn, một mảng kiến thức nào đó mà thôi. Họ chưa
1

mạnh dạn đưa Sơ đồ tư duy vào tất cả các khâu trong quá trình dạy học. Họ chưa
phát huy được tính phổ biến và đa năng của Sơ đồ tư duy. Do đó, chưa phát huy
một cách đầy đủ công dụng của SĐTD trong quá trình dạy học môn Ngữ văn đổi
mới.
Trong những năm qua, hầu hết đội ngũ giáo viên THCS trong cả nước nói
chung, ở các trường trong tỉnh, trong huyện đã được tham dự các lớp tập huấn, bồi
dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về đổi mới PPDH do Sở, Phòng GD&ĐT tổ chức, nội
dung triển khai một số phương pháp, kĩ thuật dạy học mới. Trong đó có việc sử dụng
sơ đồ tư duy. Có thể khẳng định rằng đây là một trong những PPDH rất quan trọng,
vừa rất mới, rất hiện đại, lại rất khả thi, đang được nhiều nước trên thế giới áp dụng.
Qua việc tìm hiểu và vận dụng PPDH bằng SĐTD trong quá trình dạy học, tôi nhận
thấy PPDH này đã thật sự đem lại “luồng sinh khí mới” cho học sinh trong quá trình
dạy học bộ môn Ngữ văn. Bước đầu đã giảm bớt được tâm lý chán học Văn, khơi gợi
trong học sinh tình yêu đối với môn học, đồng thời đem đến cho các em cái nhìn mới,

cách tư duy mới, sự hưng phấn, lôi cuốn đối với môn học Ngữ văn.
Tuy nhiên, việc ứng dụng SĐTD trong quá trình dạy học là vấn đề còn khó khăn,
lúng túng đối với nhiều giáo viên, trong đó có giáo viên dạy môn Ngữ văn. Họ tỏ ra
băn khoăn không biết sử dụng SĐTD vào khâu nào trong quá trình dạy học? Phương
pháp thiết kế SĐTD, hướng dẫn cách thức sử dụng cho học sinh ra sao ?…Nhất là đối
với những giáo viên cao tuổi và những giáo viên chưa quen với việc ứng dụng Công
nghệ thông tin, trình độ Tin học còn hạn chế.
Đưa lí thuyết về Sơ đồ tư duy vào dạy học là cần thiết và phù hợp với nhiều
môn học. Lí thuyết về vận dụng dụng SĐTD trong dạy học rất nhiều. Tài liêu tập
huấn của giáo viên qua các dự án bồi dưỡng của phòng GD&ĐT cũng khá đầy đủ,
sinh động, có ví dụ minh họa đối với nhiều môn học. Với bộ môn Ngữ văn, vừa là
môn khoa học cũng đồng thời là môn nghệ thuật tái hiện đời sống bằng ngôn từ. Việc
ghi nhớ kiến thức bộ môn gặp nhiều khó khăn lượng kiến thức phong phú, phức tạp,
dài dòng. Nếu không chắt lọc sẽ sa vào ghi nhớ máy móc, rườm rà khó hiểu. Đồ dùng
trực quan cho môn Văn cũng rất hạn chế, người dạy và người học chủ yếu qua kiến
thức để hình dung, tưởng tưởng qua lớp ngôn ngữ trừu tượng, phong phú, đa nghĩa.
Mô hình hóa một đơn vị kiến thức môn Ngữ văn theo đó cũng gặp nhiều khó khăn.
Bởi vậy, việc vận dụng SĐTD vào dạy học môn Ngữ văn gặp nhiều khó khăn lúng
túng. Qua thực tiễn dạy học, người viết mạnh dạn đưa ra một số cách vận dụng
SĐTD vào thực tế bộ môn Văn nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học Văn hiện
nay. Điểm đáng chú ý ở đề tài này là cụ thể hóa lí thuyết về SĐTD vào các khâu dạy
học môn Ngữ văn, đăc biệt là chương trình Lớp 9.
Bản thân tôi thật sự tâm đắc với phương pháp Sử dụng sơ đồ tư duy trong quá
trình dạy học. Bởi vì không chỉ lôi cuốn, hấp dẫn với học sinh, mà nó còn là một
PPDH rất hiệu quả, rất khoa học, rất dễ sử dụng và có thể sử dụng rộng rãi ở tất cả
các khâu trong quá trình dạy học mà nhất là rất cần thiết trong việc giảng dạy môn
Ngữ văn. Vì vậy, tôi viết đề tài SKKN: “Nâng cao hiệu quả sử dụng Sơ đồ tư duy
trong dạy học Ngữ văn” để cùng trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp.
1.2. Phạm vi áp dụng
2

Từ thực tế giảng dạy nhiều năm ởp lớp 9, người viết đưa ra những kinh
nghiệm việc sử SĐTD trong giảng dạy môn Ngữ văn 9. Qua đây, người viết mong
quý thầy cô giáo sẽ nghiên cứu vận dụng quá trình dạy học môn Ngữ văn 9 nói riêng
và bộ môn Ngữ văn ở cấp THCS nói chung.
2. Phần nội dung
2.1. Thực trạng của nội dung nghiên cứu
a. Thực trạng chung
Nhà văn Nga M.Gor-ki từng nói: “Văn học là nhân học”. Vậy mà một thực
trạng đáng lo ngại là học sinh bây giờ không còn thích học Văn. Thực trạng này lâu
nay đã được báo động. Ban đầu chỉ đơn thuần là những lời than thở với nhau của
những người trực tiếp giảng dạy môn Văn và nay đã trở thành vấn đề của báo chí và
dư luận. Ai đã trực tiếp dạy và chấm bài làm văn của học sinh trong những năm gần
đây mới thấy cần thiết phải có những thay đổi về phương pháp dạy Văn và học Văn
hiện nay. Qua công tác giảng dạy cũng như chấm trả các bài kiểm tra Ngữ văn, tôi
nhận thấy có rất nhiều những biểu hiện thể hiện tâm lý chán học văn của học sinh, cụ
thể là:
– Học sinh thờ ơ với Văn: Những năm gần đây, nhiều người quan tâm đến
công tác giáo dục không khỏi lo ngại trước một thực trạng, đó là tâm lý thờ ơ với việc
học Văn ở các trường phổ thông. Điều đáng buồn nhất cho các giáo viên dạy Văn là
nhiều học sinh có năng khiếu văn cũng không muốn tham gia đội tuyển văn. Các em
còn phải dành thời gian học các môn khác. Phần lớn phụ huynh khi đã định hướng
cho con mình sẽ thi khối A thì chỉ chủ yếu chú trọng ba môn: Toán, Lý, Hóa. Điều
đáng lo ngại hơn nữa, là có không ít phụ huynh đã chọn hướng cho con thi khối A từ
khi học tiểu học. Một bậc học mà học sinh còn đang được rèn nói, viết, mới bắt đầu
làm quen với những khái niệm về từ ngữ mà đã định hướng khối A thì thật là nguy
hại.
– Khả năng trình bày: Khi HS tạo lập một văn bản, giáo viên có thể dễ dàng
nhận ra những lỗi sai cơ bản của học sinh như: dùng từ sai, viết câu sai, viết chính tả

sai, bố cục và lời văn hết sức lủng củng, thiếu logic. Đặc biệt có những bài văn diễn
đạt ngô nghê, tối nghĩa, lủng củng …Đây là một tình trạng đã trở nên phổ biến và
thậm chí là đáng báo động trong xã hội ta.
Mục tiêu của bậc học phổ thông là đào tạo con người toàn diện, nhưng thực tế
hiện nay cho thấy, các bộ môn khoa học xã hội thường bị học sinh xem nhẹ, mặc dù
kiến thức của các bộ môn này vô cùng quan trọng cho tất cả mọi người. Muốn khôi
phục sự quan tâm của xã hội đối với các bộ môn khoa học xã hội, không thể chỉ bằng
biện pháp kêu gọi mà chúng ta phải tích cực đổi mới phương pháp dạy học văn, khơi
gợi lại hứng thú học văn của học sinh, hình thành cho các em phương pháp học văn
hiệu quả nhất.
b. Thực trạng trước lúc nghiên cứu
Trước khi nghiên cứu và thực nghiệm đề tài này tôi cùng với các đồng nghiệp
trong nhóm Ngữ văn của nhà trường tiến hành khảo sát các tiết dạy và học môn Ngữ
văn khi chưa áp dụng kĩ việc sử dụng SĐTD trong dạy học đối với các khối lớp 6, 7,
8, 9 trong năm học 2011-2012.
3

Giáo viên tiến hành cho học sinh làm các bài kiểm tra viết để đánh giá tổng quát
khả năng tái hiện, tổng hợp, xâu chuỗi kiến thức của học sinh khi chưa áp dụng
SĐTD.
* Kết quả khảo sát:
Lớp

Sĩ số

6A
6C

42

40

Giỏi
SL
(%)
0
0
1
2,5

Khá
SL
(%)
13
30,9
11
27,5

TB
SL
24
22,0

(%)
57,2
55

Yếu
SL
(%)

5
11.9
6
15,0

7A
7B

34
35

0
0

0
0

15
12

44,1
34,2

15
18

44,1
51,4

4

5

11,8
14,4

8A
8B
9A
9B

30
31
39
43

1
0
1
1

3,3
0
2,6
2,5

14
10
13
16

46,7
32,2
33,3
37,2

11
16
19
20

36,6
51,6
48,6
46,5

4
5
6
6

13,4
16,2
15,5
13,8

Như vậy, qua khảo sát trên chúng ta thấy khả năng nắm kiến thức một cách
khoa học, hệ thống, khả năng tổng hợp kiến thức của học sinh vẫn còn hạn chế. Điều
này có thể có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Không tính đến nguyên
nhân khách quan, ở góc độ chủ quan ở đây một phần là do lổ hổng trong phương
pháp dạy. Đó là phương pháp giảng dạy chưa thực sự phù hợp với một bộ phận

không nhỏ học sinh yếu kém dẫn đến chất lượng chưa cao. Đặc biệt kĩ năng khái quát
hóa kiến thức của giáo viên còn thiếu khoa học, học sinh khó nắm bắt một cách có hệ
thống. Giáo viên ít sử dụng đồ dùng trực quan, phương pháp trực quan vào tiết học,
dẫn đến chất lượng tiếp thu bài của học sinh chưa cao. Từ đó, học sinh lúng túng,
khó khăn trong việc nắm bắt căn bản hệ thống kiến thức của từng bài dạy và cả
chương trình. Học sinh sa vào ghi chép, ghi nhớ máy móc nên nhanh quên. Kĩ năng
vận dụng thực hành rất yếu vì không hiểu được bản chất vấn đề.
2.2. Các giải pháp
a. Cần hiểu căn bản về Sơ đồ tư duy
Để sử dụng một cách có hiệu quả SĐTD trong quá trình dạy học, trước hết, ta
cần nắm vững những tri thức về nó:
* Khái niệm:
– Sơ đồ tư duy hay còn gọi là Lược đồ tư duy, Bản đồ tư duy (Mind Map) là
PPDH chú trọng đến cơ chế ghi nhớ, dạy cách học, cách tự học nhằm tìm tòi, đào
sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức,…bằng
cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư
duy tích cực. Đặc biệt, đây là một dạng sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt
chẽ như bản đồ địa lí, các em có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi em có thể vẽ
một kiểu khác nhau, dùng những màu sắc, hình ảnh, chữ viết và các cụm từ diễn đạt
4

khác nhau,… Tuy cùng một chủ đề nhưng mỗi em có thể “thể hiện” nó dưới dạng Sơ
đồ tư duy theo cách riêng của mình. Do đó, việc lập Sơ đồ tư duy phát huy tối đa khả
năng sáng tạo của mỗi người.
* Cấu tạo:
Ở giữa sơ đồ là một hình ảnh trung tâm (hay một cụm từ) khái quát chủ đề.
Gắn liền với hình ảnh trung tâm là các nhánh cấp 1 mang các ý chính làm rõ
chủ đề.
Phát triển các nhánh cấp 1 là các nhánh cấp 2 mang các ý phụ làm rõ mỗi ý

chính.
Sự phân nhánh cứ thế tiếp tục để cụ thể hóa chủ đề, nhánh càng xa trung tâm
thì ý càng cụ thể, chi tiết. Có thể nói, SĐTD là một bức tranh tổng thể, một mạng lưới
tổ chức, liên kết khá chặt chẽ theo cấp độ để thể hiện một nội dung, một đơn vị kiến
thức nào đó.

Ảnh minh họa cấu tạo Sơ đồ tư duy

* Các bước thiết kế một SĐTD:
Để thiết kế một SĐTD dù vẽ thủ công trên bảng, trên giấy…, hay trên phần
mềm Mind Map, chúng ta đều thực hiện theo thứ tự các bước sau đây:
Bước 1: Bắt đầu từ trung tâm với từ, cụm từ thể hiện chủ đề (có thể vẽ hình ảnh
minh họa cho chủ đề – nếu hình dung được)
Bước 2: Từ hình ảnh trung tâm (chủ đề) chúng ta cần xác định: để làm rõ chủ
đề, thì ta đưa ra những ý chính nào. Sau đó, ta phân chia ra những ý chính, đặt tiêu đề
các nhánh chính, nối chúng với trung tâm.
5

Bước 3: Ở mỗi ý chính, ta lại xác định cần đưa ra những ý nhỏ nào để làm rõ
mỗi ý chính ấy. Sau đó, nối chúng vào mỗi nhánh chính. Cứ thế ta triển khai thành
mạng lưới liên kết chặt chẽ.
Bước 4: Cuối cùng, ta dùng hình ảnh (vẽ hoặc chèn) để minh họa cho các ý, tạo
tác động trực quan, dễ nhớ.
*Lưu ý:
Nên chọn hướng giấy ngang để khổ giấy rộng, thuận lợi cho việc vẽ các nhánh
con.
Nên dùng các nét vẽ cong, mềm mại thay vì vẽ các đường thẳng để thu hút sự
chú ý của mắt, như vậy SĐTD sẽ lôi cuốn, hấp dẫn hơn.
Các nhánh càng ở gần trung tâm thì càng được tô đậm hơn, dày hơn.

Chú ý dùng màu sắc, đường nét hợp lý để vừa làm rõ các ý trong sơ đồ đồng
thời tạo sự cân đối, hài hòa cho sơ đồ.
Không ghi quá dài dòng, hoặc ghi những ý rời rạc, không cần thiết, nên dùng
các từ, cụm từ một cách ngắn gọn.
Không dùng quá nhiều hình ảnh, nên chọn lọc những hình ảnh thật cần thiết
góp phần làm rõ các ý, chủ đề.
Có thể đánh số thứ tự ở các ý chính cùng cấp.
Không đầu tư quá nhiều thời gian vào việc “làm đẹp” sơ đồ bằng vẽ, viết, tô
màu…
Không vẽ quá chi tiết, cũng không vẽ quá sơ sài.
Người lập sơ đồ được phép vẽ và trang trí theo cách riêng của mình.
* Quy trình tổ chức hoạt động vẽ SĐTD trên lớp:
Hoạt động 1: Cho học sinh lập SĐTD theo nhóm hay cá nhân thông qua gợi ý
của giáo viên.
Hoạt động 2: Học sinh hoặc đại diện của các nhóm học sinh lên báo cáo,
thuyết minh về SĐTD mà nhóm mình đã thiết lập.
Hoạt động 3: Học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện SĐTD về
kiến thức của bài học đó. Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp học sinh
hoàn chỉnh SĐTD, từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học.
Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một SĐTD mà giáo viên đã chuẩn bị
sẵn hoặc một SĐTD mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, cho học sinh lên
trình bày, thuyết minh về kiến thức đó.
* Những tiện ích của việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học Ngữ Văn:
Dạy học bằng SĐTD giúp học sinh có được phương pháp học hiệu quả.
Chúng ta biết rằng việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ đơn thuần
là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học. Trong thực
tế hiện nay, còn nhiều học sinh học tập một cách thụ động, chỉ đơn thuần là nhớ kiến
thức một cách máy móc theo thói quen học vẹt, các em chưa có ý thức hoặc chưa biết
rèn luyện kỹ năng tư duy. Học sinh chỉ học bài nào biết bài ấy, nắm kiến thức một
cách đơn lẻ, rời rạc, chưa biết tích hợp, liên hệ kiến thức với nhau giữa các bài học,

giữa các phân môn, vì vậy mà chưa phát triển được tư duy lô-gic và tư duy hệ thống.
Do đó, dù các em học rất chăm chỉ nhưng vẫn học kém. Vì học phần sau đã quên
phần trước, không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau. Lại
có nhiều học sinh khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép
để lưu thông tin, hay kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình. Bởi vậy, rèn luyện
6

cho các em có thói quen và kĩ năng sử dụng thành thạo SĐTD trong quá trình dạy
học sẽ gúp học sinh có được phương pháp học tốt, phát huy tính độc lập, chủ động,
sáng tạo và phát triển tư duy.
SĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực. Một số kết quả nghiên cứu
của các nhà khoa học cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm
cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình. Vì vậy sử
dụng SĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của
bộ não. Việc học sinh trực tiếp vẽ SĐTD vừa lôi cuốn, hấp dẫn các em, đồng thời còn
phát triển khiếu thẩm mĩ, óc hội họa, bởi đó là “sản phẩm kiến thức hội họa”do chính
các em tự làm ra, lại vừa phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của các em trong
học tập, không rập khuôn một cách máy móc như khi lập các bảng biểu, sơ đồ, vì các
em dễ dàng vẽ thêm các nhánh để phát triển ý tưởng riêng của mình. Vì thế, tạo một
không khí sôi nổi, hào hứng, say mê cho học sinh trong học tập. Đây cũng là một
trong những nội dung quan trọng của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân
thiện, học sinh tích cực” mà Bộ GD&ĐT đang triển khai thực hiện.
Sơ đồ tư duy chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng
(các nhánh). Do đó, chúng ta có thể vận dụng Sơ đồ tư duy vào tất cả các khâu trong
quá trình dạy học. Từ khâu kiểm tra bài cũ, đến khâu dạy học kiến thức mới, hay
khâu củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, rồi ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi
chương, mỗi học kì, kể cả việc kiểm tra bài cũ, kiểm tra 15 phút.
Sơ đồ tư duy, một công cụ có tính khả thi cao. Ta có thể vận dụng được với bất
kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường hiện nay nói chung. Bởi vì ta có

thể thiết kế Sơ đồ tư duy trên giấy, bìa, tờ lịch cũ, bảng phụ,… bằng cách sử dụng bút
chì màu, phấn màu, tẩy…hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm Sơ đồ tư duy
(Mind Map). Với những trường đủ điều kiện về cơ sở vật chất như Máy chiếu
Projecto, phòng máy vi tính đảm bảo, chúng ta có thể sử dụng phần mềm (Mind
Map) để phục vụ cho việc dạy học có ứng dụng CNTT.
Tóm lại, việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong quá trình dạy học sẽ giúp HS:
1. Tăng sự hứng thú trong học tập.
2. Phát huy khả năng sáng tạo, năng lực tư duy của các em.
3. Tiết kiệm thời gian rất nhiều.
4. Nhìn thấy được bức tranh tổng thể.
5. Ghi nhớ tốt hơn.
6. Thể hiện phong cách cá nhân, dấu ấn riêng của mỗi em.
b. Giáo viên cần thành thạo trong kĩ năng sử dụng SĐTD trong quá trình tổ
chức các hoạt động dạy học:
Ngoài việc tham dự các lớp tập huấn bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ có liên
quan đến việc đổi mới PPDH, giáo viên cần nghiên cứu kĩ những tài liệu liên quan
đến việc hướng dẫn sử dụng SĐTD và phần mềm vẽ SĐTD Mind Map để có những
tri thức cơ bản về nó (Hiểu biết về SĐTD, cấu tạo, vai trò, tiện ích, phương pháp tạo
lập, thiết kế, việc sử dụng nó trong quá trình dạy học…); đồng thời, giáo viên cần đầu
tư thời gian vào việc tập vẽ, cả vẽ trên giấy và trên phần mềm trong máy vi tính (nhớ
là phải nghiên cứu kĩ cách sử dụng phần mềm để thực hiện thao tác cho nhanh nhẹn,
thuần thục). Sau khi đã hiểu kĩ, nắm chắc về vai trò, công dụng của SĐTD, sử dụng
thành thạo phần mềm, nắm vững phương pháp vẽ một SĐTD, thì việc ứng dụng nó
7

vào quá trình dạy học là việc dễ dàng. (Dĩ nhiên chuyện SĐTD đẹp hay xấu phụ
thuộc vào sự tưởng tượng, liên tưởng, óc sáng tạo và năng khiếu mỗi người).
c. Học sinh hiểu và rèn luyện kĩ năng vẽ SĐTD trong học Ngữ văn
Người xưa có câu “Chưa học bò, chớ lo học chạy”. Quả đúng như vây. Để có

thể sử dụng tốt và phát huy một cách có hiệu quả SĐTD trong quá trình dạy học,
trước hết, chúng ta cần cho học sinh làm quen với một số sơ đồ tư duy có sẵn, để chí
ít các em có cái nhìn khái quát về nó (tiếp xúc nó, hiểu nó, rồi “bắt chước” vẽ nó).
Đây là bước chuẩn bị hết sức quan trọng. Tuy nhiên, rất nhiều giáo viên bỏ qua bước
này hoặc giới thiệu một cách rất sơ sài, qua loa. Vì thế, học sinh chưa hiểu biết cặn
kẽ, cụ thể về nó, chưa nắm vững phương pháp tạo lập, chưa có kĩ năng vẽ SĐTD nên
dẫn đến nhiều tiết dạy không thành công do các em mãi loay hoay với giấy bút mà
không biết vẽ cái gì, vẽ như thế nào, bắt đầu từ đâu,… vì các em chưa hình dung được
SĐTD của bài học trong đầu mình cũng như chưa biết cách thức, phương pháp vẽ.
Vì vậy, theo tôi, chúng ta cần dành thời gian hợp lý cho các em “làm quen” với
SĐTD, theo cách sau đây:
* Để tiết kiệm thời gian, lại khỏi phải làm cái công việc giới thiệu, hướng dẫn
cách vẽ SĐTD trở đi, trở lại hết lớp này đến lớp khác, giáo viên nên tham mưu cho
Ban Giám hiệu trường, hoặc Chuyên môn trường, chọn thời gian thuận lợi ngay từ
đầu năm học tổ chức một buổi ngoại khóa “Làm quen với Sơ đồ tư duy” (tùy theo
tình hình cụ thể của từng đơn vị trường mà có thể tổ chức theo khối lớp giáo viên trực
tiếp dạy, khối học sáng – chiều hoặc toàn trường) để giới thiệu, cho các em làm quen
và hướng dẫn cách vẽ SĐTD cho các em.(lưu ý rằng đây cũng là một bước tạo không
khí sôi nổi, lôi cuốn các em tiếp cận với một phương pháp, kĩ thuật dạy học mới). Để
buổi ngoại khóa thành công, giáo viên cần chuẩn bị tốt các nội dung sau:
+ Về phía học sinh, giáo viên cần nhắc nhở các em mang theo đầy đủ các dụng
cụ: giấy vở, bìa lịch cũ, bìa cứng, bút chì, hộp màu, tẩy,…
+ Về phía giáo viên, cần chuẩn bị trước: phòng máy, máy chiếu, bảng phụ,
phấn màu, … và một số SĐTD đã vẽ sẵn trên trên máy, trên giấy vở, trên bìa lịch, trên
bảng phụ… Sau đó, chúng ta bắt đầu tiến hành tổ chức nội dung theo các bước sau:
Bước 1: “Làm quen”
Giáo viên giới thiệu một số SĐTD vẽ sẵn cho học sinh làm quen (nên chọn vẽ
SĐTD ở những bài đã học trong chương trình cho các em vừa tiện theo dõi, tiếp thu
tri thức về SĐTD, đồng thời vừa thuận lợi trong việc hệ thống hóa kiến thức, học sinh
sẽ nhanh tiếp thu hơn vì các em đã học). Giáo viên giới thiệu cấu trúc SĐTD theo

mạch kiến thức của bài học cho học sinh nắm, rồi hướng dẫn cách vẽ một SĐTD
(Cung cấp cho các em phương pháp vẽ SĐTD).
Bước 2: “Đọc hiểu”
Giáo viên chọn những SĐTD có kết cấu đơn giản cho học sinh quan sát. Sau
đó, cho các em dựa vào SĐTD để thuyết trình nội dung bài học (kiến thức) được vẽ
trong sơ đồ. (Luyện cho các em tư duy lô-gic, tư duy hệ thống và kĩ năng thuyết
trình )
Bước 3: “Tập vẽ”
Giáo viên đưa ra chủ đề bằng từ khóa (hoặc hình ảnh) ở trung tâm màn hình
(hoặc trên bảng đen). Ví dụ: Phương châm hội thoại, Chiến tranh hạt nhân, Từ (xét về
cấu tạo)… Cho học sinh thực hành vẽ SĐTD trên giấy hoặc bìa lịch hay bảng phụ.
8

Giáo viên đặt các câu hỏi gợi ý để các em suy nghĩ và vẽ các nhánh cấp 1, cấp
2, cấp 3… (Luyện kĩ năng vẽ SĐTD)
* Lưu ý:
+ Giáo viên nên chọn những bài các em đã học, có kiến thức đơn giản, dễ nhớ,
dễ vẽ.
+ Giáo viên có thể linh hoạt cho học sinh vẽ theo nhóm vào bìa lịch, vẽ cá
nhân vào giấy vở hoặc gọi 2-3 em lên bảng vẽ.
+ Lưu ý các em không dùng câu, đoạn quá dài, nên thể hiện các ý bằng những
cụm từ ngắn gọn.
Bước 4: “Trang trí”
Sau khi các em vẽ xong sườn của SĐTD, giáo viên gợi ý cho các em vẽ chèn
thêm những hình ảnh cần thiết để minh họa cho nội dung của sơ đồ, gợi ý cho các em
chỉnh sửa đường nét, sử dụng màu sắc để phân biệt, làm nổi bật mạng lưới các ý
trong sơ đồ.(Kĩ năng hội họa – dấu ấn sáng tạo riêng)
* Lưu ý:
+ Giáo viên lưu ý học sinh khi vẽ SĐTD, các em nên kết hợp dùng màu sắc,

đường nét, … ngay trong quá trình vẽ để tiết kiệm thời gian.
+ Không nên dùng quá nhiều màu, không dùng những màu sắc quá sặc sỡ,
không quá chú trọng vào đường nét, hình ảnh làm lãng phí thời gian.
Bước 5: “Chia sẻ kinh nghiệm”
Ở bước này, giáo viên thu một số SĐTD các em vừa vẽ theo từng loại (Sơ đồ
không triển khai đủ các ý chính, sơ đồ vẽ quá chi tiết đến vụn vặt, sơ đồ vẽ không
đúng trọng tâm kiến thức, sơ đồ dùng quá nhiều hình ảnh, màu sắc lòe loẹt,… )
Cho học sinh quan sát, nhận xét, góp ý chỉnh sửa, bổ sung.
Giáo viên lắng nghe, định hướng cho các em chỉnh sửa, bổ sung:
+ Như trên đã trình bày, SĐTD là một sơ đồ mở. Vì vậy, giáo viên cần tôn
trọng và phát huy sự sáng tạo của các em, bởi đây là “sản phẩm” của chính các em.
Giáo viên chỉ chỉnh sửa cho các em chủ yếu về mặt kiến thức. Mặt khác, giáo viên
cũng cần khuyến khích, biểu dương những SĐTD vẽ đảm bảo đầy đủ kiến thức trọng
tâm, đẹp, có cách trình bày khoa học, cân đối, hài hòa về đường nét, màu sắc.
+ Nếu thấy mất quá nhiều thời gian để tô đậm màu trong một nhánh, ta có thể
hướng dẫn thêm cho các em cách gạch chéo, đánh dấu cộng, hay chấm bi trong đó.
Đây là điều rất mới mẻ, sáng tạo và tiết kiệm rất nhiều thời gian.
+ Giáo viên nhắc nhở thêm các em cần hình thành thói quen tốt: nên lập SĐTD
trong quá trình chuẩn bị bài mới ở nhà và lập lại sau khi học xong bài trên lớp để có
điều kiện đối chiếu xem mình đã làm được những gì? Những gì mình còn sai sót cần
bổ sung, sửa chữa. Nếu làm được như vậy, chẳng những giúp các em nắm vững kiến
thức mà còn rèn luyện cho các em phát triển năng lực tư duy (Tư duy lô-gic, tư duy
hệ thống…) rất tốt.
+ Nhắc các em sau mỗi bài học nên lưu các SĐTD lại để sau này tiện việc ôn
tập, hệ thống kiến thức.
Tóm lại, nếu giáo viên chuẩn bị thật kĩ lưỡng các bước trên cho các em, tôi
nghĩ rằng chắc chắn các em sẽ học tốt, làm tốt những yêu cầu giáo viên đặt ra trong
quá trình dạy học, kiểm tra, đánh giá có ứng dụng SĐTD.

9

d. Giáo viên thường xuyên thực hành sử dụng SĐTD trong quá trình dạy
học kết hợp hướng dẫn học sinh thực hành sử dụng SĐTD trong học tập môn
Ngữ văn.
* Sử dụng SĐTD trong các hình thức kiểm tra:
Có thể nói, đây là việc làm rất đơn giản nhưng lại còn rất xa lạ, mới mẻ đối với
rất nhiều giáo viên. Qua dự giờ, góp ý, trao đổi kinh nghiệm cùng các đồng nghiệp
trong tổ, trong trường, tôi nhận thấy, hầu hết giáo viên rất băn khoăn khi nghe đề nghị
dùng SĐTD để kiểm tra bài cũ, kiểm tra 15 phút hay kiểm tra một tiết. Sau đây là một
vài kinh nghiệm xin chia sẻ cùng đồng nghiệp:
– Sử dụng SĐTD trong việc kiểm tra bài cũ:
Giáo viên đưa ra một từ khóa (hay một hình ảnh trung tâm) thể hiện chủ đề của
kiến thức cũ mà các em đã học, cần kiểm tra, yêu cầu các em vẽ SĐTD thông qua câu
hỏi gợi ý. Trên cơ sở từ khóa (hoặc hình ảnh trung tâm) ấy kết hợp với câu hỏi định
hướng của giáo viên, học sinh sẽ nhớ lại kiến thức và định hình được cách vẽ SĐTD
theo yêu cầu.
Ví dụ 1:
Sau khi các em học xong bài “Các phương châm hội thoại”(Tiết 1,2), trước
khi tìm hiểu các kiến thức mở rộng có liên quan đến phương châm hội thoại ở Tiết 3
(Tiết 13 trong PPCT), giáo viên kiểm tra bài cũ bằng cách cho các em lập SĐTD để
củng cố, hệ thống kiến thức đã học ở hai tiết học trước thông qua câu hỏi sau: Ta đã
học qua những phương châm hội thoại nào? Em hãy lập SĐTD để hệ thống kiến thức
về chúng? Sau đó, giáo viên ghi cụm từ khóa lên giữa bảng phụ “Phương châm hội
thoại”, rồi gọi một em xung phong lên bảng vẽ. Học sinh sẽ dễ dàng vẽ được SĐTD
theo nội dung yêu cầu.
Dưới đây là SĐTD về các phương châm hội thoại có tính chất minh họa, các
em vẽ SĐTD đảm bảo các nội dung tương tự như sau là tốt:

10

Khi học sinh vẽ xong, giáo viên cho cả lớp quan sát, gọi một vài em nhận xét,
góp ý sơ đồ rồi giáo viên nhận xét và cho điểm.
Ví dụ 2:
Trước khi cho các em tìm hiểu tiết “Luyện tập liên kết câu và liên kết đoạn
văn” (Tiết 110 trong PPCT), ở khâu Kiểm tra bài cũ, giáo viên cho học sinh lập
SĐTD để ôn lại lý thuyết trước rồi mới hướng dẫn cho các em bắt tay vào thực hành.
Cách làm đơn giản như ở ví dụ trên. Ta cũng có thể làm ngược lại quy trình trên
nhưng cũng khá đơn giản như sau: Trước tiên, giáo viên ghi cụm từ khóa “Liên kết
văn bản” lên bảng phụ. Sau đó, giáo viên đưa ra câu hỏi dẫn dắt cho các em: Các câu
văn trong đoạn và các đoạn văn trong văn bản được liên kết chặt chẽ với nhau qua
những mặt liên kết nào? Có những phép liên kết phổ biến nào được sử dụng để thực
hiện việc liên kết trong văn bản? Em hãy dựa vào cụm từ khóa trên, lập SĐTD biểu
thị mối quan hệ các mặt liên kết trong văn bản? Rồi cho học sinh tiến hành lập
SĐTD. Sau đây là SĐTD minh họa:

Lưu ý:
Giáo viên có thể cho cả lớp cùng lập SĐTD trên giấy theo cách hoạt động cá
nhân trong một thời gian nhất định để lôi cuốn tất cả học sinh vào việc ôn kiến thức
đồng thời rèn luyện kĩ năng tạo lập SĐTD và thói quen tư duy cho các em. Hết thời
gian quy định, giáo viên chọn sơ đồ của một vài em (có thể vẽ xong trước, có thể cần
lấy điểm,…), chấm, nhận xét và ghi điểm cho các em; biểu dương, khen ngợi những
em vẽ tốt để khích lệ các em nhằm tạo không khí học tập sôi nổi. Đây là việc làm rất
cần thiết của chúng ta.
Giáo viên chỉ cần dựa vào SĐTD chấm và ghi nhận điểm cho học sinh mà
không cần phải yêu cầu gì thêm ở các em, vì ta đã chọn dạng đề khá đơn giản, nên
11

những gì cần trả lời, các em đã thể hiện trong SĐTD, hơn nữa thời gian kiểm tra bài
cũ có hạn.
– Sử dụng SĐTD trong kiểm tra 15 phút, 1 tiết:
Chúng ta cũng có thể dùng SĐTD trong các hình thức kiểm tra trên giấy (15
phút, 1 tiết) một cách dễ dàng để tăng cường việc rèn luyện thói quen tư duy lô-gic,
tư duy hệ thống cho học sinh thông qua các bài kiểm tra viết, nhằm phát triển năng
lực tư duy sáng tạo cho các em. Tuy nhiên, giáo viên cũng cần lưu ý rằng kiểm tra
kiến thức cũ bằng phương pháp vẽ SĐTD chỉ là một hình thức kiểm tra nhằm việc
giúp học sinh củng cố, hệ thống kiến thức có tính chất lý thuyết. Do đó, giáo viên nên
chọn kiểm tra những kiến thức có tính hệ thống, xâu chuỗi, các em có thể dễ dàng hệ
thống hóa bằng SĐTD. Ví dụ: lập SĐTD về Từ loại (xét về cấu tạo, xét về ngữ pháp),
về các Phương châm hội thoại, về Trau dồi vốn từ, về Nghĩa của từ, Các cách phát
triển từ vựng, …trong phân môn Tiếng Việt; lập SĐTD về hệ thống luận điểm, luận
cứ trong một văn bản nghị luận, về dàn ý của một kiểu văn bản nào đó…trong phân
môn Tập làm văn; hay lập SĐTD để khái quát, sơ đồ hóa kiến thức về một tác giả, tác
phẩm nào đó, về quá trình phát triển tính cách, tâm trạng…của một nhân vật trong tác
phẩm truyện hay mạch cảm xúc, trình tự kết cấu của một bài thơ…đối với phân môn
Văn học. Mặt khác, về yêu cầu của đề kiểm tra, giáo viên cần đưa ra từ hay cụm từ
khóa ngắn gọn, rõ ràng, cụ thể, khái quát được chủ đề của phần kiến thức cần kiểm
tra trong câu hỏi để định hướng, giúp học sinh dễ dàng nắm bắt chính xác yêu cầu đề
và có thể vẽ đúng SĐTD theo yêu cầu. Sau đây là một số ví dụ minh họa các dạng đề
kiểm tra viết yêu cầu học sinh lập SĐTD:
Ví dụ 1:
Từ tiếng Việt (xét về mặt cấu tạo) gồm có những loại nào? Em hãy vẽ SĐTD
giới thiệu chi tiết về chúng.

12

– Ví dụ 2:

Cho từ khóa Truyện Kiều. Em hãy vẽ SĐTD giới thiệu nguồn gốc, thể loại và
giá trị “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.

13

– Ví dụ 3:
Bài thơ “Viếng lăng Bác” ghi lại diễn biến tâm trạng cảm xúc của nhà thơ Viễn
Phương theo trình tự không gian và thời gian của chuyến ra thăm lăng Bác Hồ. Với
cụm từ khóa “Viếng lăng Bác”, em hãy lập SĐTD ghi lại diễn biến tâm trạng cảm
xúc ấy của tác giả qua mỗi khổ thơ.

14

Ví dụ 4:
Có mấy cách phát triển của từ vựng? Em hãy lập SĐTD minh họa với cụm từ
khóa sau: “SỰ PHÁT TRIỂN TỪ VỰNG”.

Ví dụ 5:
Em hãy lập SĐTD trình bày những hiểu biết của em về nhà thơ Nguyễn Du
(Tên hiệu, xuất thân, thời đại, cuộc đời, sự nghiệp văn học?)

15

16

Ví dụ 2:

Khi dạy bài “Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống”(Tiết 99), sau khi
giới thiệu bài mới, giáo viên ghi cụm từ khóa “NGHỊ LUẬN SỰ VIỆC, HIỆN
TƯỢNG ĐỜI SỐNG” lên bảng, rồi bắt đầu tiết học với mục Tìm hiểu bài. Giáo viên
vẽ nhánh chính thứ nhất, ghi tiêu đề “I. TÌM HIỂU BÀI”. Sau đó, cho học sinh đọc
văn bản “Bệnh lề mề” – SGK, giáo viên đưa ra các câu hỏi dẫn dắt các em lần lượt
tìm hiểu: vấn đề nghị luận của bài viết, biểu hiện, nguyên nhân, tác hại, hướng khắc
phục. Sau khi tìm hiểu xong văn bản, giáo viên chuyển sang bước hai: hình thành
kiến thức. Giáo viên vẽ nhánh chính thứ hai, ghi tiêu đề “II. BÀI HỌC”. Rồi dùng hệ
thống câu hỏi dẫn dắt, phát triển các nhánh con: khái niệm, yêu cầu về nội dung, yêu
cầu về hình thức…tương tự như ở bước trên. Cuối cùng là bước thứ ba “Luyện tập”,
cách làm như trên. Kết thúc tiết dạy, ta có SĐTD trên bảng đen như sau:

17

Ví dụ 3:
Đối với phân môn Tiếng Việt thì sử dụng SĐTD kết hợp việc dạy học bài mới
với việc ghi bảng càng dễ dàng hơn. Ví dụ khi dạy bài “Ôn tập Tiếng Việt” học kỳ I
(Tiết 73). Sau khi giới thiệu bài mới, giáo viên ghi cụm từ trung tâm “ÔN TẬP
TIẾNG VIỆT” lên giữa bảng đen. Sau đó, dẫn dắt học sinh lần lượt đi vào tìm hiểu
các nội dung ôn tập theo trình tự SGK. Bắt đầu với việc hệ thống, củng cố kiến thức
lý thuyết thông qua các câu hỏi:
Chúng ta đã học qua những phương châm hội thoại nào? Em hãy nhắc lại nội
dung mỗi phương châm? (vẽ nhánh, ghi chú)
Tiếng Việt có những loại từ ngữ nào thường dùng để xưng hô? Cho ví dụ mỗi
loại? (vẽ nhánh, ghi chú)
Em có nhận xét gì về từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt? Khi sử dụng từ ngữ
xưng hô em cần lưu ý điều gì? (vẽ nhánh, ghi chú)
Có mấy cách dẫn lại lời nói, ý nghĩ của một người hay một nhân vật?
Mỗi cách dẫn ấy khác nhau như thế nào? (vẽ nhánh, ghi chú)

Ta kết hợp cho học sinh làm các bài tập trong mỗi nội dung ôn tập sau khi lập
SĐTD cho mỗi nhánh (nội dung). Cuối tiết Ôn tập, ta có SĐTD trên bảng như sau:

18

Như vậy, chúng ta có thể dễ dàng sử dụng SĐTD kết hợp trong việc dạy học bài
mới với dùng chính nó để cô đọng kiến thức của bài học cho học sinh ghi. Việc sử
dụng SĐTD trong quá trình dạy học bài mới sẽ giúp học sinh từng bước phát hiện,
tiếp cận và chiếm lĩnh toàn bộ kiến thức bài học một cách khoa học, có hệ thống, lôgic. Bắt đầu bài học bằng từ, cụm từ trung tâm thể hiện trọng tâm kiến thức, thông
qua sự định hướng dẫn dắt của giáo viên, các em tự khám phá, tìm hiểu các đơn vị
kiến thức của bài học (các ý lớn, nhỏ) một cách liền mạch, có hệ thống, đến khi tiết
học kết thúc cũng là lúc toàn bộ kiến thức của bài học được cô đọng và trình bày một
cách sinh động, khoa học và sáng tạo trên bảng đen (hoặc trên màn hình). SĐTD ấy
không chỉ cung cấp cho các em “bức tranh tổng thể” về kiến thức của bài học mà nó
còn giúp cho các em dễ dàng nhận ra mạch lô-gic kiến thức của bài học. Do đó,
chúng ta có thể dùng nó như phần nội dung ghi bảng của giáo viên để học sinh ghi
chép.
Tuy nhiên, chúng ta cần linh hoạt sử dụng ở những tiết dạy, bài dạy cho phép
chứ không nên lạm dụng SĐTD để khỏi phải ghi bảng ở tất cả các tiết dạy. Mặt khác,
việc sử dụng kết hợp này càng thuận lợi hơn khi chúng ta sử dụng phần mềm Mind
Map và soạn giảng bằng bài giảng điện tử. Chúng ta cũng nên đánh số thứ tự vào các
khâu lên lớp (tìm hiểu bài, bài học, luyện tập), các ý chính trong mỗi đơn vị kiến thức
của bài học để học sinh thuận tiện trong việc theo dõi, ghi chép vào vở. Giáo viên
cũng cần dành ít phút cuối tiết học, cho học sinh quan sát SĐTD và thuyết trình “đọc hiểu” lại toàn bộ nội dung kiến thức của bài học.
* Sử dụng SĐTD trong việc hệ thống, củng cố kiến thức sau mỗi bài học,
mỗi phần của bài học:
Sau khi dạy xong mỗi phần (một đơn vị kiến thức) của bài học, hay mỗi bài
học, giáo viên cho học sinh hình dung, nhớ lại và vẽ SĐTD để củng cố, hệ thống
phần kiến thức đó, hoặc toàn bộ kiến thức của bài học.

Ví dụ 1:
Khi dạy tác phẩm truyện “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ,
sau khi hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu xong phần một “Vũ Nương và câu chuyện
oan khuất của nàng” giáo viên cho các em lập SĐTD về nhân vật Vũ Nương thông
qua câu hỏi sau: Như vậy, qua phần tìm hiểu trên, em hãy lập SĐTD để chứng minh
Vũ Nương là một người mẹ đảm đang, một người vợ thủy chung, một người dâu hiền
hiếu thảo?
Sau đây là SĐTD minh họa:

19

Ví dụ 2: Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu xong luận cứ 3: “Những điểm
mạnh, điểm yếu của con người Việt Nam trong bài “Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ
mới” của Vũ Khoan, giáo viên cho học sinh lập SĐTD về đặc điểm của con người
Việt Nam. Các em sẽ nhớ lại những gì vừa được nghe, được thảo luận, được ghi chép
và vẽ SĐTD. Sau đây là SĐTD minh họa:

20

Ví dụ 3:
Sau khi hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu xong văn bản “Đấu tranh cho một thế
giới hòa bình”(Tiết 6,7), giáo viên cho học sinh lập SĐTD hệ thống kiến thức của bài
học. Đây là SĐTD củng cố, hệ thống kiến thức cuối bài “Chiến tranh hạt nhân”:

Ví dụ 4:
Sau khi hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu xong văn bản “Bàn về đọc sách”(Tiết
91,92), giáo viên cho học sinh lập SĐTD hệ thống kiến thức của bài học. Dưới đây là
SĐTD củng cố, hệ thống kiến thức bài “Bàn về đọc sách”:

21

* Sử dụng SĐTD trong việc ôn tập kiến thức:
Cũng như các cách làm trên, chúng ta có thể sử dụng SĐTD để ôn tập và hệ
thống kiến thức đã học cho các em. Sau đây là một vài ví dụ:
Ví dụ 1: Cho học sinh lập SĐTD hệ thống kiến thức bài “Ôn tập Tiếng Việt”
học kỳ II (Tiết 139,140) như sau:

22

Ví dụ 2: Cho học sinh lập SĐTD hệ thống kiến thức bài “Ôn tập Truyện”(Tiết
154,155) như sau:

Qua hai năm áp dụng, chất lượng thực bộ môn Ngữ văn của học sinh lớp 9 tăng
rõ rệt, đặc biệt là tỉ lệ học sinh yếu bộ môn trong năm học 2012-2013 giảm rõ rệt so
với năm trước. Kết quả cụ thể như sau:
– Năm học 2011-2012:
Lớp
Số
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Kém
Trên TB
lượng
SL %

SL %
SL %
SL %
SL % SL %
8 38
4
10,5 12 31,6 20 52,6 02 5,3 0
0
36 94,7
– Năm học 2012-2013: (Lớp 8 lên lớp 9)
Lớp

Số
Giỏi
lượng
SL %
9 37
04 10,
8

Khá

TB

SL %
SL
14 37,8 19

%
SL

51,4 0

Yếu
%
0

Kém
SL
0

%
0

Trên TB
SL
37

%
100

Tóm lại, với những ưu điểm của mình, sơ đồ tư duy trở thành một công cụ
gợi mở, kích thích quá trình tìm tòi kiến thức của học sinh. Việc sử dụng SĐTD
trong quá trình dạy học giúp các em học tập một cách chủ động, tích cực và huy động
được tất cả học sinh tham gia xây dựng bài một cách hào hứng. Cách học này còn
23

phát triển được năng lực riêng của từng em không chỉ về trí tuệ (vẽ, viết gì trên
BĐTD), hệ thống hóa kiến thức (huy động những điều đã học trước đó vào việc chọn
lọc các ý để ghi), khả năng hội họa (hình thức trình bày, kết hợp hình vẽ, chữ viết,

màu sắc), sự vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống.
Sơ đồ tư duy còn là một công cụ tư duy thực sự hiệu quả trong hoạt động nhóm
bởi nó tối đa hoá được nguồn lực của cá nhân và tập thể. Mỗi thành viên đều rèn
luyện được khả năng tư duy, kỹ năng thuyết trình và làm việc khoa học. Sử dụng
SĐTD giúp cho các thành viên hiểu được nội dung bài học một cách rõ ràng và hệ
thống. Việc ghi nhớ cũng như vận dụng cũng sẽ tốt hơn. Chỉ cần nhìn vào Sơ đồ tư
duy, bất kỳ thành viên nào của nhóm cũng có thể thuyết trình được nội dung bài học.
Việc vận dụng SĐTD trong dạy học sẽ dần hình thành cho HS tư duy mạch lạc,
hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học.
Sử dụng SĐTD kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác như vấn đáp gợi
mở, thuyết trình,… có tính khả thi cao góp phần đổi mới PPDH, đặc biệt là đối với
các lớp ở cấp THCS.
3. Phần kết luận
3.1. Ý nghĩa của SKKN
Sau một thời gian ứng dụng SĐTD trong đổi mới phương pháp dạy học môn
Ngữ văn, tôi nhận thấy bước đầu có những kết quả rất khả quan. Trước hết, bản thân
tôi đã nhận thức được vai trò tích cực của việc ứng dụng SĐTD trong quá trình dạy
học. Tôi đã tìm hiểu, biết cách sử dụng SĐTĐ một cách hiệu quả trong hầu hết các
khâu của quá trình lên lớp, từ việc kiểm tra bài cũ, dạy bài mới, củng cố kiến thức bài
học, ôn tập, khái quát, hệ thống kiến thức các chương, phần….Học sinh tiếp thu bài,
nắm kiến thức chắc chắn hơn, khoa học hơn, nhanh hơn. Đa số các em học sinh khá,
giỏi đã biết sử dụng SĐTD để ghi chép bài, tổng hợp kiến thức môn học. Những học
sinh trung bình đã biết dùng SĐTD để củng cố kiến thức bài học ở mức đơn giản.
Điều quan trọng hơn là các em học tập tích cực hơn, sôi nổi hơn. Các em không còn
tâm lý chán học, ngại học môn Ngữ văn vì phải ghi chép nhiều. Trái lại, tất cả rất hào
hứng với việc học tập. Vì việc ứng dụng SĐTD không chỉ tạo tác động trực quan lôi
cuốn các em, mà còn giúp các em ghi chép bài gọn gàng, khoa học hơn, nhanh hơn và
nhẹ nhàng hơn nhiều so với cách ghi chép trước đây.
Không những thế, nếu giáo viên biết tổ chức tốt cho học sinh sử dụng sơ đồ tư
duy trong dạy học nhóm giúp thì nó sẽ giúp các em phát huy được tính sáng tạo, tối

đa hoá khả năng của mỗi em, đồng thời kết hợp sức mạnh của các cá nhân thành sức
mạnh tập thể để có thể giải quyết được các vấn đề một cách hiệu quả. Sơ đồ tư duy
tạo cho mỗi thành viên cơ hội được giao lưu học hỏi và phát triển chính mình một
cách hoàn thiện hơn. Chung quy lại, người dạy cần áp dụng một số giải pháp chính
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng Sơ đồ tư duy đối với người dạy và cả người học.
– Người dạy và người học cần hiểu căn bản về sơ đồ tư duy: khái niệm, cấu tạo,
các bước thiết kế, quy trình tổ chức hoạt động vẽ SĐTD trên lớp.
– Giáo viên cần thành thạo trong kĩ năng sử dụng SĐTD trong quá trình tổ chức
các hoạt động dạy học.
– Giáo viên giúp học sinh hiểu và rèn luyện kĩ năng vẽ SĐTD trong học Ngữ
văn.
24

– Giáo viên thương xuyên thực hành sử dụng SĐTD trong qú tình dạy học kết
hợp hướng dẫn học sinh thực hành sử dụng SĐTD trong học tập môn Ngữ văn (trong
các hình thức kiểm tra, hệ thống nội dung bài học, trong ôn tập, trong dạy bài mới,…)
Tóm lại, việc vận dụng SĐTD trong dạy học, kiểm tra, đánh giá sẽ dần hình
thành cho HS tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề
một cách hệ thống, khoa học. Sử dụng SĐTD kết hợp với các phương pháp dạy học
tích cực khác như vấn đáp gợi mở, thuyết trình,… có tính khả thi cao góp phần đổi
mới PPDH, đặc biệt là đối với học sinh ở cấp THCS hiện nay. Vì vậy, việc tăng
cường sử dụng SĐTD trong quá trình dạy học nói chung, trong đó có dạy học Ngữ
văn là việc làm rất cần thiết, góp phần đáp ứng yêu cầu của phong trào “Xây dựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực” của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
3.2. Kiến nghị, đề xuất
a. Đối với giáo viên:
Cần phải nắm vững những hiểu biết, kiến thức cơ bản về sơ đồ tư duy: khái
niệm, cấu tạo, các bước thiết kế, quy trình tổ chức hoạt động vẽ SĐTD trên lớp và
những tiện ích.

Cần có sự cân nhắc khi ứng dụng SĐTD vào việc soạn, giảng, kiểm tra đánh
giá, tổ chức hoạt động cho học sinh, tránh lạm dụng; nhất là đối với bộ môn Ngữ văn.
Cần xác định đúng kiến thức cơ bản, trọng tâm để thiết kế SĐTD tức là phải
biết chọn lọc những ý cơ bản, những kiến thức thật cần thiết.
Cần đầu tư thời gian hợp lí vào việc soạn bài, lập trước các SĐTD cần
thiết cho tất cả các khâu của quá trình lên lớp đối với từng bài học.
a. Đối với học sinh:

Cần tích cực, tự giác, cũng như tăng cường giao lưu học hỏi một cách khiêm
tốn ở thầy cô, bạn bè về việc vẽ, học và ghi chép với SĐTD.
Thường xuyên rèn luyện kĩ năng khái quát, hệ thống kiến thức bằng Sơ đồ tư
duy, sử dụng Sơ đồ tư duy như công cụ đắc lực trong việc học tập bộ môn nhằm khắc
sâu kiến một cách khoa học, lo-gic, giảm ghi chép máy móc, rườm rà.

25

tin. Việc sử dụng SĐTD thay thế sửa chữa cho những quy mô, sơ đồ, biểu đồ … đã lỗi thời, lỗithời để khái quát, cô đọng kiến thức và kỹ năng cho học viên là một sự tất yếu, bởi SĐTD có rấtnhiều điểm ưu việt hơn. Do đó, việc ứng dụng SĐTD vào trong quy trình dạy họcmôn Ngữ văn không chỉ hấp dẫn sự hứng thú, làm “ sống lại ” niềm đam mê, yêu thíchmôn học ở những em học viên mà còn làm dấy lên một “ trào lưu ” đưa SĐTD vào bàigiảng ở giáo viên. Tuy nhiên, lúc bấy giờ, việc đưa Sơ đồ tư duy vào ứng dụng trong quy trình dạyhọc so với môn học Ngữ văn còn là yếu tố gặp không ít khó khăn vất vả, trở ngại đốivới giáo viên, đơn cử như trong việc tổ chức triển khai, phong cách thiết kế những hoạt động giải trí dạy học vớiviệc sử dụng SĐTD. Qua dự giờ, trao đổi kinh nghiệm tay nghề trình độ so với cácđồng nghiệp trong tổ, trong trường, tôi nhận thấy, hầu hết giáo viên mới chỉ dừnglại ở việc sử dụng SĐTD để hệ thống hóa kiến thức và kỹ năng sau mỗi bài học kinh nghiệm, hay mỗi bàiôn tập, tổng kết một phân môn, một mảng kiến thức và kỹ năng nào đó mà thôi. Họ chưamạnh dạn đưa Sơ đồ tư duy vào tổng thể những khâu trong quy trình dạy học. Họ chưaphát huy được tính phổ cập và đa năng của Sơ đồ tư duy. Do đó, chưa phát huymột cách vừa đủ hiệu quả của SĐTD trong quy trình dạy học môn Ngữ văn đổimới. Trong những năm qua, hầu hết đội ngũ giáo viên trung học cơ sở trong cả nước nóichung, ở những trường trong tỉnh, trong huyện đã được tham gia những lớp tập huấn, bồidưỡng trình độ nhiệm vụ về thay đổi PPDH do Sở, Phòng GD&ĐT tổ chức triển khai, nộidung tiến hành một số ít chiêu thức, kĩ thuật dạy học mới. Trong đó có việc sử dụngsơ đồ tư duy. Có thể chứng minh và khẳng định rằng đây là một trong những PPDH rất quan trọng, vừa rất mới, rất tân tiến, lại rất khả thi, đang được nhiều nước trên quốc tế vận dụng. Qua việc khám phá và vận dụng PPDH bằng SĐTD trong quy trình dạy học, tôi nhậnthấy PPDH này đã thật sự đem lại “ luồng sinh khí mới ” cho học viên trong quá trìnhdạy học bộ môn Ngữ văn. Bước đầu đã giảm bớt được tâm ý chán học Văn, khơi gợitrong học viên tình yêu so với môn học, đồng thời đem đến cho những em cái nhìn mới, cách tư duy mới, sự hưng phấn, hấp dẫn so với môn học Ngữ văn. Tuy nhiên, việc ứng dụng SĐTD trong quy trình dạy học là yếu tố còn khó khăn vất vả, lúng túng so với nhiều giáo viên, trong đó có giáo viên dạy môn Ngữ văn. Họ tỏ rabăn khoăn không biết sử dụng SĐTD vào khâu nào trong quy trình dạy học ? Phươngpháp phong cách thiết kế SĐTD, hướng dẫn phương pháp sử dụng cho học viên thế nào ? … Nhất là đốivới những giáo viên cao tuổi và những giáo viên chưa quen với việc ứng dụng Côngnghệ thông tin, trình độ Tin học còn hạn chế. Đưa lí thuyết về Sơ đồ tư duy vào dạy học là thiết yếu và tương thích với nhiềumôn học. Lí thuyết về vận dụng dụng SĐTD trong dạy học rất nhiều. Tài liêu tậphuấn của giáo viên qua những dự án Bất Động Sản tu dưỡng của phòng GD&ĐT cũng khá không thiếu, sinh động, có ví dụ minh họa so với nhiều môn học. Với bộ môn Ngữ văn, vừa làmôn khoa học cũng đồng thời là môn nghệ thuật và thẩm mỹ tái hiện đời sống bằng ngôn từ. Việcghi nhớ kiến thức và kỹ năng bộ môn gặp nhiều khó khăn vất vả lượng kỹ năng và kiến thức đa dạng và phong phú, phức tạp, dài dòng. Nếu không chắt lọc sẽ sa vào ghi nhớ máy móc, rườm rà khó hiểu. Đồ dùngtrực quan cho môn Văn cũng rất hạn chế, người dạy và người học hầu hết qua kiếnthức để tưởng tượng, tưởng tưởng qua lớp ngôn từ trừu tượng, đa dạng chủng loại, đa nghĩa. Mô hình hóa một đơn vị chức năng kiến thức và kỹ năng môn Ngữ văn theo đó cũng gặp nhiều khó khăn vất vả. Bởi vậy, việc vận dụng SĐTD vào dạy học môn Ngữ văn gặp nhiều khó khăn vất vả lúngtúng. Qua thực tiễn dạy học, người viết mạnh dạn đưa ra một số ít cách vận dụngSĐTD vào thực tiễn bộ môn Văn nhằm mục đích nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học Văn hiệnnay. Điểm đáng quan tâm ở đề tài này là cụ thể hóa lí thuyết về SĐTD vào những khâu dạyhọc môn Ngữ văn, đăc biệt là chương trình Lớp 9. Bản thân tôi thật sự tâm đắc với giải pháp Sử dụng sơ đồ tư duy trong quátrình dạy học. Bởi vì không chỉ hấp dẫn, mê hoặc với học viên, mà nó còn là mộtPPDH rất hiệu suất cao, rất khoa học, rất dễ sử dụng và hoàn toàn có thể sử dụng thoáng rộng ở tất cảcác khâu trong quy trình dạy học mà nhất là rất thiết yếu trong việc giảng dạy mônNgữ văn. Vì vậy, tôi viết đề tài SKKN : “ Nâng cao hiệu suất cao sử dụng Sơ đồ tư duytrong dạy học Ngữ văn ” để cùng trao đổi, san sẻ kinh nghiệm tay nghề với đồng nghiệp. 1.2. Phạm vi áp dụngTừ thực tiễn giảng dạy nhiều năm ởp lớp 9, người viết đưa ra những kinhnghiệm việc sử SĐTD trong giảng dạy môn Ngữ văn 9. Qua đây, người viết mongquý thầy cô giáo sẽ điều tra và nghiên cứu vận dụng quy trình dạy học môn Ngữ văn 9 nói riêngvà bộ môn Ngữ văn ở cấp trung học cơ sở nói chung. 2. Phần nội dung2. 1. Thực trạng của nội dung nghiên cứua. Thực trạng chungNhà văn Nga M.Gor – ki từng nói : ” Văn học là nhân học “. Vậy mà một thựctrạng đáng lo lắng là học viên giờ đây không còn thích học Văn. Thực trạng này lâunay đã được báo động. Ban đầu chỉ đơn thuần là những lời than phiền với nhau củanhững người trực tiếp giảng dạy môn Văn và nay đã trở thành yếu tố của báo chí truyền thông vàdư luận. Ai đã trực tiếp dạy và chấm bài làm văn của học viên trong những năm gầnđây mới thấy thiết yếu phải có những biến hóa về chiêu thức dạy Văn và học Vănhiện nay. Qua công tác làm việc giảng dạy cũng như chấm trả những bài kiểm tra Ngữ văn, tôinhận thấy có rất nhiều những bộc lộ biểu lộ tâm ý chán học văn của học viên, cụthể là : – Học sinh lạnh nhạt với Văn : Những năm gần đây, nhiều người chăm sóc đếncông tác giáo dục không khỏi quan ngại trước một tình hình, đó là tâm ý hờ hững với việchọc Văn ở những trường đại trà phổ thông. Điều đáng buồn nhất cho những giáo viên dạy Văn lànhiều học viên có năng khiếu sở trường văn cũng không muốn tham gia đội tuyển văn. Các emcòn phải dành thời hạn học những môn khác. Phần lớn cha mẹ khi đã định hướngcho con mình sẽ thi khối A thì chỉ đa phần chú trọng ba môn : Toán, Lý, Hóa. Điềuđáng lo lắng hơn nữa, là có không ít cha mẹ đã chọn hướng cho con thi khối A từkhi học tiểu học. Một bậc học mà học viên còn đang được rèn nói, viết, mới bắt đầulàm quen với những khái niệm về từ ngữ mà đã xu thế khối A thì thật là nguyhại. – Khả năng trình diễn : Khi HS tạo lập một văn bản, giáo viên hoàn toàn có thể dễ dàngnhận ra những lỗi sai cơ bản của học viên như : dùng từ sai, viết câu sai, viết chính tảsai, bố cục tổng quan và lời văn rất là lủng củng, thiếu logic. Đặc biệt có những bài văn diễnđạt ngô nghê, tối nghĩa, lủng củng … Đây là một thực trạng đã trở nên thông dụng vàthậm chí là đáng báo động trong xã hội ta. Mục tiêu của bậc học đại trà phổ thông là đào tạo và giảng dạy con người tổng lực, nhưng thực tếhiện nay cho thấy, những bộ môn khoa học xã hội thường bị học viên xem nhẹ, mặc dùkiến thức của những bộ môn này vô cùng quan trọng cho toàn bộ mọi người. Muốn khôiphục sự chăm sóc của xã hội so với những bộ môn khoa học xã hội, không hề chỉ bằngbiện pháp lôi kéo mà tất cả chúng ta phải tích cực thay đổi chiêu thức dạy học văn, khơigợi lại hứng thú học văn của học viên, hình thành cho những em phương pháp học vănhiệu quả nhất. b. Thực trạng trước lúc nghiên cứuTrước khi nghiên cứu và điều tra và thực nghiệm đề tài này tôi cùng với những đồng nghiệptrong nhóm Ngữ văn của nhà trường triển khai khảo sát những tiết dạy và học môn Ngữvăn khi chưa vận dụng kĩ việc sử dụng SĐTD trong dạy học so với những khối lớp 6, 7,8, 9 trong năm học 2011 – 2012. Giáo viên thực thi cho học viên làm những bài kiểm tra viết để nhìn nhận tổng quátkhả năng tái hiện, tổng hợp, xâu chuỗi kiến thức và kỹ năng của học viên khi chưa áp dụngSĐTD. * Kết quả khảo sát : LớpSĩ số6A6C4240GiỏiSL ( % ) 2,5 KháSL ( % ) 1330,91127,5 TBSL2422, 0 ( % ) 57,255 YếuSL ( % ) 11.915,07 A7B3435151244, 134,2151844,151,411,814,48 A8B9A9B303139433, 32,62,51410131646,732,233,337,21116192036,651,648,646,513,416,215,513,8 Như vậy, qua khảo sát trên tất cả chúng ta thấy năng lực nắm kỹ năng và kiến thức một cáchkhoa học, mạng lưới hệ thống, năng lực tổng hợp kiến thức và kỹ năng của học viên vẫn còn hạn chế. Điềunày hoàn toàn có thể có nhiều nguyên do khách quan và chủ quan. Không tính đến nguyênnhân khách quan, ở góc nhìn chủ quan ở đây một phần là do lổ hổng trong phươngpháp dạy. Đó là chiêu thức giảng dạy chưa thực sự tương thích với một bộ phậnkhông nhỏ học viên yếu kém dẫn đến chất lượng chưa cao. Đặc biệt kĩ năng khái quáthóa kỹ năng và kiến thức của giáo viên còn thiếu khoa học, học viên khó chớp lấy một cách có hệthống. Giáo viên ít sử dụng vật dụng trực quan, chiêu thức trực quan vào tiết học, dẫn đến chất lượng tiếp thu bài của học viên chưa cao. Từ đó, học viên lúng túng, khó khăn vất vả trong việc chớp lấy cơ bản mạng lưới hệ thống kiến thức và kỹ năng của từng bài dạy và cảchương trình. Học sinh sa vào ghi chép, ghi nhớ máy móc nên nhanh quên. Kĩ năngvận dụng thực hành thực tế rất yếu vì không hiểu được thực chất yếu tố. 2.2. Các giải phápa. Cần hiểu cơ bản về Sơ đồ tư duyĐể sử dụng một cách có hiệu suất cao SĐTD trong quy trình dạy học, trước hết, tacần nắm vững những tri thức về nó : * Khái niệm : – Sơ đồ tư duy hay còn gọi là Lược đồ tư duy, Bản đồ tư duy ( Mind Map ) làPPDH chú trọng đến chính sách ghi nhớ, dạy cách học, cách tự học nhằm mục đích tìm tòi, đàosâu, lan rộng ra một ý tưởng sáng tạo, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức và kỹ năng, … bằngcách phối hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, sắc tố, chữ viết với sự tưduy tích cực. Đặc biệt, đây là một dạng sơ đồ mở, không nhu yếu tỉ lệ, chi tiết cụ thể chặtchẽ như bản đồ địa lí, những em hoàn toàn có thể vẽ thêm hoặc bớt những nhánh, mỗi em hoàn toàn có thể vẽmột kiểu khác nhau, dùng những sắc tố, hình ảnh, chữ viết và những cụm từ diễn đạtkhác nhau, … Tuy cùng một chủ đề nhưng mỗi em hoàn toàn có thể “ bộc lộ ” nó dưới dạng Sơđồ tư duy theo cách riêng của mình. Do đó, việc lập Sơ đồ tư duy phát huy tối đa khảnăng phát minh sáng tạo của mỗi người. * Cấu tạo : Ở giữa sơ đồ là một hình ảnh TT ( hay một cụm từ ) khái quát chủ đề. Gắn liền với hình ảnh TT là những nhánh cấp 1 mang những ý chính làm rõchủ đề. Phát triển những nhánh cấp 1 là những nhánh cấp 2 mang những ý phụ làm rõ mỗi ýchính. Sự phân nhánh cứ thế liên tục để cụ thể hóa chủ đề, nhánh càng xa trung tâmthì ý càng đơn cử, chi tiết cụ thể. Có thể nói, SĐTD là một bức tranh tổng thể và toàn diện, một mạng lướitổ chức, link khá ngặt nghèo theo Lever để bộc lộ một nội dung, một đơn vị chức năng kiếnthức nào đó. Ảnh minh họa cấu trúc Sơ đồ tư duy * Các bước phong cách thiết kế một SĐTD : Để phong cách thiết kế một SĐTD dù vẽ thủ công bằng tay trên bảng, trên giấy …, hay trên phầnmềm Mind Map, tất cả chúng ta đều thực thi theo thứ tự những bước sau đây : Bước 1 : Bắt đầu từ TT với từ, cụm từ bộc lộ chủ đề ( hoàn toàn có thể vẽ hình ảnhminh họa cho chủ đề – nếu tưởng tượng được ) Bước 2 : Từ hình ảnh TT ( chủ đề ) tất cả chúng ta cần xác lập : để làm rõ chủđề, thì ta đưa ra những ý chính nào. Sau đó, ta phân loại ra những ý chính, đặt tiêu đềcác nhánh chính, nối chúng với TT. Bước 3 : Ở mỗi ý chính, ta lại xác lập cần đưa ra những ý nhỏ nào để làm rõmỗi ý chính ấy. Sau đó, nối chúng vào mỗi nhánh chính. Cứ thế ta tiến hành thànhmạng lưới link ngặt nghèo. Bước 4 : Cuối cùng, ta dùng hình ảnh ( vẽ hoặc chèn ) để minh họa cho những ý, tạotác động trực quan, dễ nhớ. * Lưu ý : Nên chọn hướng giấy ngang để khổ giấy rộng, thuận tiện cho việc vẽ những nhánhcon. Nên dùng những nét vẽ cong, quyến rũ thay vì vẽ những đường thẳng để lôi cuốn sựchú ý của mắt, như vậy SĐTD sẽ hấp dẫn, mê hoặc hơn. Các nhánh càng ở gần TT thì càng được tô đậm hơn, dày hơn. Chú ý dùng sắc tố, đường nét hài hòa và hợp lý để vừa làm rõ những ý trong sơ đồ đồngthời tạo sự cân đối, hòa giải cho sơ đồ. Không ghi quá dài dòng, hoặc ghi những ý rời rạc, không thiết yếu, nên dùngcác từ, cụm từ một cách ngắn gọn. Không dùng quá nhiều hình ảnh, nên tinh lọc những hình ảnh thật cần thiếtgóp phần làm rõ những ý, chủ đề. Có thể đánh số thứ tự ở những ý chính cùng cấp. Không góp vốn đầu tư quá nhiều thời hạn vào việc “ làm đẹp ” sơ đồ bằng vẽ, viết, tômàu … Không vẽ quá cụ thể, cũng không vẽ quá sơ sài. Người lập sơ đồ được phép vẽ và trang trí theo cách riêng của mình. * Quy trình tổ chức triển khai hoạt động giải trí vẽ SĐTD trên lớp : Hoạt động 1 : Cho học viên lập SĐTD theo nhóm hay cá thể trải qua gợi ýcủa giáo viên. Hoạt động 2 : Học sinh hoặc đại diện thay mặt của những nhóm học viên lên báo cáo giải trình, thuyết minh về SĐTD mà nhóm mình đã thiết lập. Hoạt động 3 : Học sinh bàn luận, bổ trợ, chỉnh sửa để triển khai xong SĐTD vềkiến thức của bài học kinh nghiệm đó. Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp học sinhhoàn chỉnh SĐTD, từ đó dẫn dắt đến kỹ năng và kiến thức của bài học kinh nghiệm. Hoạt động 4 : Củng cố kiến thức và kỹ năng bằng một SĐTD mà giáo viên đã chuẩn bịsẵn hoặc một SĐTD mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn hảo, cho học viên lêntrình bày, thuyết minh về kiến thức và kỹ năng đó. * Những tiện ích của việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học Ngữ Văn : Dạy học bằng SĐTD giúp học viên có được phương pháp học hiệu quả. Chúng ta biết rằng việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ đơn thuầnlà một giải pháp nâng cao hiệu suất cao dạy học mà còn là tiềm năng dạy học. Trong thựctế lúc bấy giờ, còn nhiều học viên học tập một cách thụ động, chỉ đơn thuần là nhớ kiếnthức một cách máy móc theo thói quen học vẹt, những em chưa có ý thức hoặc chưa biếtrèn luyện kiến thức và kỹ năng tư duy. Học sinh chỉ học bài nào biết bài ấy, nắm kiến thức và kỹ năng mộtcách đơn lẻ, rời rạc, chưa biết tích hợp, liên hệ kỹ năng và kiến thức với nhau giữa những bài học kinh nghiệm, giữa những phân môn, vì thế mà chưa tăng trưởng được tư duy lô-gic và tư duy mạng lưới hệ thống. Do đó, dù những em học rất cần mẫn nhưng vẫn học kém. Vì học phần sau đã quênphần trước, không biết vận dụng kiến thức và kỹ năng đã học trước đó vào những phần sau. Lạicó nhiều học viên khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chépđể lưu thông tin, hay kỹ năng và kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình. Bởi vậy, rèn luyệncho những em có thói quen và kĩ năng sử dụng thành thạo SĐTD trong quy trình dạyhọc sẽ gúp học viên có được phương pháp học tốt, phát huy tính độc lập, dữ thế chủ động, phát minh sáng tạo và tăng trưởng tư duy. SĐTD giúp học viên học tập một cách tích cực. Một số tác dụng nghiên cứucủa những nhà khoa học cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậmcái mà do chính mình tự tâm lý, tự viết, vẽ ra theo ngôn từ của mình. Vì vậy sửdụng SĐTD giúp học viên học tập một cách tích cực, kêu gọi tối đa tiềm năng củabộ não. Việc học viên trực tiếp vẽ SĐTD vừa hấp dẫn, mê hoặc những em, đồng thời cònphát triển khiếu thẩm mĩ, óc hội họa, bởi đó là “ mẫu sản phẩm kiến thức và kỹ năng hội họa ” do chínhcác em tự làm ra, lại vừa phát huy được tối đa năng lực phát minh sáng tạo của những em tronghọc tập, không rập khuôn một cách máy móc như khi lập những bảng biểu, sơ đồ, vì cácem thuận tiện vẽ thêm những nhánh để tăng trưởng ý tưởng sáng tạo riêng của mình. Vì thế, tạo mộtkhông khí sôi sục, hào hứng, mê hồn cho học viên trong học tập. Đây cũng là mộttrong những nội dung quan trọng của trào lưu thi đua “ Xây dựng trường học thânthiện, học viên tích cực ” mà Bộ GD&ĐT đang tiến hành thực thi. Sơ đồ tư duy chú trọng tới hình ảnh, sắc tố, với những mạng lưới liên tưởng ( những nhánh ). Do đó, tất cả chúng ta hoàn toàn có thể vận dụng Sơ đồ tư duy vào toàn bộ những khâu trongquá trình dạy học. Từ khâu kiểm tra bài cũ, đến khâu dạy học kiến thức và kỹ năng mới, haykhâu củng cố kỹ năng và kiến thức sau mỗi tiết học, rồi ôn tập hệ thống hóa kỹ năng và kiến thức sau mỗichương, mỗi học kì, kể cả việc kiểm tra bài cũ, kiểm tra 15 phút. Sơ đồ tư duy, một công cụ có tính khả thi cao. Ta hoàn toàn có thể vận dụng được với bấtkì điều kiện kèm theo cơ sở vật chất nào của những nhà trường lúc bấy giờ nói chung. Bởi vì ta cóthể phong cách thiết kế Sơ đồ tư duy trên giấy, bìa, tờ lịch cũ, bảng phụ, … bằng cách sử dụng bútchì màu, phấn màu, tẩy … hoặc cũng hoàn toàn có thể phong cách thiết kế trên ứng dụng Sơ đồ tư duy ( Mind Map ). Với những trường đủ điều kiện kèm theo về cơ sở vật chất như Máy chiếuProjecto, phòng máy vi tính bảo vệ, tất cả chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng ứng dụng ( MindMap ) để ship hàng cho việc dạy học có ứng dụng CNTT.Tóm lại, việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong quy trình dạy học sẽ giúp HS : 1. Tăng sự hứng thú trong học tập. 2. Phát huy năng lực phát minh sáng tạo, năng lượng tư duy của những em. 3. Tiết kiệm thời hạn rất nhiều. 4. Nhìn thấy được bức tranh toàn diện và tổng thể. 5. Ghi nhớ tốt hơn. 6. Thể hiện phong thái cá thể, dấu ấn riêng của mỗi em. b. Giáo viên cần thành thạo trong kĩ năng sử dụng SĐTD trong quy trình tổchức những hoạt động giải trí dạy học : Ngoài việc tham gia những lớp tập huấn tu dưỡng trình độ nhiệm vụ có liênquan đến việc thay đổi PPDH, giáo viên cần nghiên cứu và điều tra kĩ những tài liệu liên quanđến việc hướng dẫn sử dụng SĐTD và ứng dụng vẽ SĐTD Mind Map để có nhữngtri thức cơ bản về nó ( Hiểu biết về SĐTD, cấu trúc, vai trò, tiện ích, giải pháp tạolập, phong cách thiết kế, việc sử dụng nó trong quy trình dạy học … ) ; đồng thời, giáo viên cần đầutư thời hạn vào việc tập vẽ, cả vẽ trên giấy và trên ứng dụng trong máy vi tính ( nhớlà phải điều tra và nghiên cứu kĩ cách sử dụng ứng dụng để triển khai thao tác cho nhanh gọn, thuần thục ). Sau khi đã hiểu kĩ, nắm chắc về vai trò, hiệu quả của SĐTD, sử dụngthành thạo ứng dụng, nắm vững chiêu thức vẽ một SĐTD, thì việc ứng dụng nóvào quy trình dạy học là việc thuận tiện. ( Dĩ nhiên chuyện SĐTD đẹp hay xấu phụthuộc vào sự tưởng tượng, liên tưởng, óc phát minh sáng tạo và năng khiếu sở trường mỗi người ). c. Học sinh hiểu và rèn luyện kĩ năng vẽ SĐTD trong học Ngữ vănNgười xưa có câu “ Chưa học bò, chớ lo học chạy ”. Quả đúng như vây. Để cóthể sử dụng tốt và phát huy một cách có hiệu suất cao SĐTD trong quy trình dạy học, trước hết, tất cả chúng ta cần cho học viên làm quen với một số ít sơ đồ tư duy có sẵn, để chíít những em có cái nhìn khái quát về nó ( tiếp xúc nó, hiểu nó, rồi “ bắt chước ” vẽ nó ). Đây là bước chuẩn bị sẵn sàng rất là quan trọng. Tuy nhiên, rất nhiều giáo viên bỏ lỡ bướcnày hoặc trình làng một cách rất sơ sài, qua loa. Vì thế, học viên chưa hiểu biết cặnkẽ, đơn cử về nó, chưa nắm vững giải pháp tạo lập, chưa có kĩ năng vẽ SĐTD nêndẫn đến nhiều tiết dạy không thành công xuất sắc do những em mãi loay hoay với giấy bút màkhông biết vẽ cái gì, vẽ như thế nào, mở màn từ đâu, … vì những em chưa tưởng tượng đượcSĐTD của bài học kinh nghiệm trong đầu mình cũng như chưa biết phương pháp, giải pháp vẽ. Vì vậy, theo tôi, tất cả chúng ta cần dành thời hạn hài hòa và hợp lý cho những em “ làm quen ” vớiSĐTD, theo cách sau đây : * Để tiết kiệm ngân sách và chi phí thời hạn, lại khỏi phải làm cái việc làm trình làng, hướng dẫncách vẽ SĐTD trở đi, trở lại hết lớp này đến lớp khác, giáo viên nên tham mưu choBan Giám hiệu trường, hoặc Chuyên môn trường, chọn thời hạn thuận tiện ngay từđầu năm học tổ chức triển khai một buổi ngoại khóa “ Làm quen với Sơ đồ tư duy ” ( tùy theotình hình cụ thể của từng đơn vị chức năng trường mà hoàn toàn có thể tổ chức triển khai theo khối lớp giáo viên trựctiếp dạy, khối học sáng – chiều hoặc toàn trường ) để trình làng, cho những em làm quenvà hướng dẫn cách vẽ SĐTD cho những em. ( chú ý quan tâm rằng đây cũng là một bước tạo khôngkhí sôi sục, hấp dẫn những em tiếp cận với một chiêu thức, kĩ thuật dạy học mới ). Đểbuổi ngoại khóa thành công xuất sắc, giáo viên cần chuẩn bị sẵn sàng tốt những nội dung sau : + Về phía học viên, giáo viên cần nhắc nhở những em mang theo vừa đủ những dụngcụ : giấy vở, bìa lịch cũ, bìa cứng, bút chì, hộp màu, tẩy, … + Về phía giáo viên, cần sẵn sàng chuẩn bị trước : phòng máy, máy chiếu, bảng phụ, phấn màu, … và 1 số ít SĐTD đã vẽ sẵn trên trên máy, trên giấy vở, trên bìa lịch, trênbảng phụ … Sau đó, tất cả chúng ta mở màn thực thi tổ chức triển khai nội dung theo những bước sau : Bước 1 : “ Làm quen ” Giáo viên ra mắt một số ít SĐTD vẽ sẵn cho học viên làm quen ( nên chọn vẽSĐTD ở những bài đã học trong chương trình cho những em vừa tiện theo dõi, tiếp thutri thức về SĐTD, đồng thời vừa thuận tiện trong việc hệ thống hóa kiến thức và kỹ năng, học sinhsẽ nhanh tiếp thu hơn vì những em đã học ). Giáo viên ra mắt cấu trúc SĐTD theomạch kỹ năng và kiến thức của bài học kinh nghiệm cho học viên nắm, rồi hướng dẫn cách vẽ một SĐTD ( Cung cấp cho những em giải pháp vẽ SĐTD ). Bước 2 : “ Đọc hiểu ” Giáo viên chọn những SĐTD có cấu trúc đơn thuần cho học viên quan sát. Sauđó, cho những em dựa vào SĐTD để thuyết trình nội dung bài học kinh nghiệm ( kiến thức và kỹ năng ) được vẽtrong sơ đồ. ( Luyện cho những em tư duy lô-gic, tư duy mạng lưới hệ thống và kĩ năng thuyếttrình ) Bước 3 : “ Tập vẽ ” Giáo viên đưa ra chủ đề bằng từ khóa ( hoặc hình ảnh ) ở TT màn hình hiển thị ( hoặc trên bảng đen ). Ví dụ : Phương châm hội thoại, Chiến tranh hạt nhân, Từ ( xét vềcấu tạo ) … Cho học viên thực hành thực tế vẽ SĐTD trên giấy hoặc bìa lịch hay bảng phụ. Giáo viên đặt những câu hỏi gợi ý để những em tâm lý và vẽ những nhánh cấp 1, cấp2, cấp 3 … ( Luyện kĩ năng vẽ SĐTD ) * Lưu ý : + Giáo viên nên chọn những bài những em đã học, có kỹ năng và kiến thức đơn thuần, dễ nhớ, dễ vẽ. + Giáo viên hoàn toàn có thể linh động cho học viên vẽ theo nhóm vào bìa lịch, vẽ cánhân vào giấy vở hoặc gọi 2-3 em lên bảng vẽ. + Lưu ý những em không dùng câu, đoạn quá dài, nên biểu lộ những ý bằng nhữngcụm từ ngắn gọn. Bước 4 : “ Trang trí ” Sau khi những em vẽ xong sườn của SĐTD, giáo viên gợi ý cho những em vẽ chènthêm những hình ảnh thiết yếu để minh họa cho nội dung của sơ đồ, gợi ý cho những emchỉnh sửa đường nét, sử dụng sắc tố để phân biệt, làm điển hình nổi bật mạng lưới những ýtrong sơ đồ. ( Kĩ năng hội họa – dấu ấn phát minh sáng tạo riêng ) * Lưu ý : + Giáo viên chú ý quan tâm học viên khi vẽ SĐTD, những em nên tích hợp dùng sắc tố, đường nét, … ngay trong quy trình vẽ để tiết kiệm chi phí thời hạn. + Không nên dùng quá nhiều màu, không dùng những sắc tố quá sặc sỡ, không quá chú trọng vào đường nét, hình ảnh làm tiêu tốn lãng phí thời hạn. Bước 5 : “ Chia sẻ kinh nghiệm tay nghề ” Ở bước này, giáo viên thu 1 số ít SĐTD những em vừa vẽ theo từng loại ( Sơ đồkhông tiến hành đủ những ý chính, sơ đồ vẽ quá cụ thể đến vụn vặt, sơ đồ vẽ khôngđúng trọng tâm kiến thức và kỹ năng, sơ đồ dùng quá nhiều hình ảnh, sắc tố lòe loẹt, … ) Cho học viên quan sát, nhận xét, góp ý chỉnh sửa, bổ trợ. Giáo viên lắng nghe, khuynh hướng cho những em chỉnh sửa, bổ trợ : + Như trên đã trình diễn, SĐTD là một sơ đồ mở. Vì vậy, giáo viên cần tôntrọng và phát huy sự phát minh sáng tạo của những em, bởi đây là “ mẫu sản phẩm ” của chính những em. Giáo viên chỉ chỉnh sửa cho những em hầu hết về mặt kiến thức và kỹ năng. Mặt khác, giáo viêncũng cần khuyến khích, biểu dương những SĐTD vẽ bảo vệ khá đầy đủ kiến thức và kỹ năng trọngtâm, đẹp, có cách trình diễn khoa học, cân đối, hòa giải về đường nét, sắc tố. + Nếu thấy mất quá nhiều thời hạn để tô đậm màu trong một nhánh, ta có thểhướng dẫn thêm cho những em cách gạch chéo, đánh dấu cộng, hay chấm bi trong đó. Đây là điều rất mới lạ, phát minh sáng tạo và tiết kiệm ngân sách và chi phí rất nhiều thời hạn. + Giáo viên nhắc nhở thêm những em cần hình thành thói quen tốt : nên lập SĐTDtrong quy trình chuẩn bị sẵn sàng bài mới ở nhà và lập lại sau khi học xong bài trên lớp để cóđiều kiện so sánh xem mình đã làm được những gì ? Những gì mình còn sai sót cầnbổ sung, sửa chữa thay thế. Nếu làm được như vậy, chẳng những giúp những em nắm vững kiếnthức mà còn rèn luyện cho những em tăng trưởng năng lượng tư duy ( Tư duy lô-gic, tư duyhệ thống … ) rất tốt. + Nhắc những em sau mỗi bài học kinh nghiệm nên lưu những SĐTD lại để sau này tiện việc ôntập, mạng lưới hệ thống kỹ năng và kiến thức. Tóm lại, nếu giáo viên chuẩn bị sẵn sàng thật kĩ lưỡng những bước trên cho những em, tôinghĩ rằng chắc như đinh những em sẽ học tốt, làm tốt những nhu yếu giáo viên đặt ra trongquá trình dạy học, kiểm tra, nhìn nhận có ứng dụng SĐTD.d. Giáo viên liên tục thực hành thực tế sử dụng SĐTD trong quy trình dạyhọc tích hợp hướng dẫn học viên thực hành thực tế sử dụng SĐTD trong học tập mônNgữ văn. * Sử dụng SĐTD trong những hình thức kiểm tra : Có thể nói, đây là việc làm rất đơn thuần nhưng lại còn rất lạ lẫm, mới lạ đối vớirất nhiều giáo viên. Qua dự giờ, góp ý, trao đổi kinh nghiệm tay nghề cùng những đồng nghiệptrong tổ, trong trường, tôi nhận thấy, hầu hết giáo viên rất do dự khi nghe đề nghịdùng SĐTD để kiểm tra bài cũ, kiểm tra 15 phút hay kiểm tra một tiết. Sau đây là mộtvài kinh nghiệm tay nghề xin san sẻ cùng đồng nghiệp : – Sử dụng SĐTD trong việc kiểm tra bài cũ : Giáo viên đưa ra một từ khóa ( hay một hình ảnh TT ) bộc lộ chủ đề củakiến thức cũ mà những em đã học, cần kiểm tra, nhu yếu những em vẽ SĐTD trải qua câuhỏi gợi ý. Trên cơ sở từ khóa ( hoặc hình ảnh TT ) ấy phối hợp với câu hỏi địnhhướng của giáo viên, học viên sẽ nhớ lại kiến thức và kỹ năng và định hình được cách vẽ SĐTDtheo nhu yếu. Ví dụ 1 : Sau khi những em học xong bài “ Các mục tiêu hội thoại ” ( Tiết 1,2 ), trướckhi khám phá những kiến thức và kỹ năng lan rộng ra có tương quan đến mục tiêu hội thoại ở Tiết 3 ( Tiết 13 trong PPCT ), giáo viên kiểm tra bài cũ bằng cách cho những em lập SĐTD đểcủng cố, mạng lưới hệ thống kỹ năng và kiến thức đã học ở hai tiết học trước trải qua câu hỏi sau : Ta đãhọc qua những mục tiêu hội thoại nào ? Em hãy lập SĐTD để mạng lưới hệ thống kiến thứcvề chúng ? Sau đó, giáo viên ghi cụm từ khóa lên giữa bảng phụ “ Phương châm hộithoại ”, rồi gọi một em xung phong lên bảng vẽ. Học sinh sẽ thuận tiện vẽ được SĐTDtheo nội dung nhu yếu. Dưới đây là SĐTD về những mục tiêu hội thoại có đặc thù minh họa, cácem vẽ SĐTD bảo vệ những nội dung tựa như như sau là tốt : 10K hi học viên vẽ xong, giáo viên cho cả lớp quan sát, gọi một vài em nhận xét, góp ý sơ đồ rồi giáo viên nhận xét và cho điểm. Ví dụ 2 : Trước khi cho những em khám phá tiết “ Luyện tập link câu và link đoạnvăn ” ( Tiết 110 trong PPCT ), ở khâu Kiểm tra bài cũ, giáo viên cho học viên lậpSĐTD để ôn lại triết lý trước rồi mới hướng dẫn cho những em bắt tay vào thực hành thực tế. Cách làm đơn thuần như ở ví dụ trên. Ta cũng hoàn toàn có thể làm ngược lại quy trình tiến độ trênnhưng cũng khá đơn thuần như sau : Trước tiên, giáo viên ghi cụm từ khóa “ Liên kếtvăn bản ” lên bảng phụ. Sau đó, giáo viên đưa ra câu hỏi dẫn dắt cho những em : Các câuvăn trong đoạn và những đoạn văn trong văn bản được link ngặt nghèo với nhau quanhững mặt link nào ? Có những phép link thông dụng nào được sử dụng để thựchiện việc link trong văn bản ? Em hãy dựa vào cụm từ khóa trên, lập SĐTD biểuthị mối quan hệ những mặt link trong văn bản ? Rồi cho học viên triển khai lậpSĐTD. Sau đây là SĐTD minh họa : Lưu ý : Giáo viên hoàn toàn có thể cho cả lớp cùng lập SĐTD trên giấy theo cách hoạt động giải trí cánhân trong một thời hạn nhất định để hấp dẫn toàn bộ học viên vào việc ôn kiến thứcđồng thời rèn luyện kĩ năng tạo lập SĐTD và thói quen tư duy cho những em. Hết thờigian lao lý, giáo viên chọn sơ đồ của một vài em ( hoàn toàn có thể vẽ xong trước, hoàn toàn có thể cầnlấy điểm, … ), chấm, nhận xét và ăn được điểm cho những em ; biểu dương, khen ngợi nhữngem vẽ tốt để khuyến khích những em nhằm mục đích tạo không khí học tập sôi sục. Đây là việc làm rấtcần thiết của tất cả chúng ta. Giáo viên chỉ cần dựa vào SĐTD chấm và ghi nhận điểm cho học viên màkhông cần phải nhu yếu gì thêm ở những em, vì ta đã chọn dạng đề khá đơn thuần, nên11những gì cần vấn đáp, những em đã biểu lộ trong SĐTD, không chỉ có vậy thời hạn kiểm tra bàicũ có hạn. – Sử dụng SĐTD trong kiểm tra 15 phút, 1 tiết : Chúng ta cũng hoàn toàn có thể dùng SĐTD trong những hình thức kiểm tra trên giấy ( 15 phút, 1 tiết ) một cách thuận tiện để tăng cường việc rèn luyện thói quen tư duy lô-gic, tư duy mạng lưới hệ thống cho học viên trải qua những bài kiểm tra viết, nhằm mục đích tăng trưởng nănglực tư duy phát minh sáng tạo cho những em. Tuy nhiên, giáo viên cũng cần chú ý quan tâm rằng kiểm trakiến thức cũ bằng giải pháp vẽ SĐTD chỉ là một hình thức kiểm tra nhằm mục đích việcgiúp học viên củng cố, mạng lưới hệ thống kiến thức và kỹ năng có đặc thù triết lý. Do đó, giáo viên nênchọn kiểm tra những kỹ năng và kiến thức có tính mạng lưới hệ thống, xâu chuỗi, những em hoàn toàn có thể thuận tiện hệthống hóa bằng SĐTD. Ví dụ : lập SĐTD về Từ loại ( xét về cấu trúc, xét về ngữ pháp ), về những Phương châm hội thoại, về Trau dồi vốn từ, về Nghĩa của từ, Các cách pháttriển từ vựng, … trong phân môn Tiếng Việt ; lập SĐTD về mạng lưới hệ thống vấn đề, luậncứ trong một văn bản nghị luận, về dàn ý của một kiểu văn bản nào đó … trong phânmôn Tập làm văn ; hay lập SĐTD để khái quát, sơ đồ hóa kỹ năng và kiến thức về một tác giả, tácphẩm nào đó, về quy trình tăng trưởng tính cách, tâm trạng … của một nhân vật trong tácphẩm truyện hay mạch cảm hứng, trình tự cấu trúc của một bài thơ … so với phân mônVăn học. Mặt khác, về nhu yếu của đề kiểm tra, giáo viên cần đưa ra từ hay cụm từkhóa ngắn gọn, rõ ràng, đơn cử, khái quát được chủ đề của phần kiến thức và kỹ năng cần kiểmtra trong câu hỏi để xu thế, giúp học viên thuận tiện chớp lấy đúng chuẩn nhu yếu đềvà hoàn toàn có thể vẽ đúng SĐTD theo nhu yếu. Sau đây là một số ít ví dụ minh họa những dạng đềkiểm tra viết nhu yếu học viên lập SĐTD : Ví dụ 1 : Từ tiếng Việt ( xét về mặt cấu trúc ) gồm có những loại nào ? Em hãy vẽ SĐTDgiới thiệu chi tiết cụ thể về chúng. 12 – Ví dụ 2 : Cho từ khóa Truyện Kiều. Em hãy vẽ SĐTD trình làng nguồn gốc, thể loại vàgiá trị “ Truyện Kiều ” của Nguyễn Du. 13 – Ví dụ 3 : Bài thơ “ Viếng lăng Bác ” ghi lại diễn biến tâm trạng cảm hứng của nhà thơ ViễnPhương theo trình tự khoảng trống và thời hạn của chuyến ra thăm lăng Bác Hồ. Vớicụm từ khóa “ Viếng lăng Bác ”, em hãy lập SĐTD ghi lại diễn biến tâm trạng cảmxúc ấy của tác giả qua mỗi khổ thơ. 14V í dụ 4 : Có mấy cách tăng trưởng của từ vựng ? Em hãy lập SĐTD minh họa với cụm từkhóa sau : “ SỰ PHÁT TRIỂN TỪ VỰNG ”. Ví dụ 5 : Em hãy lập SĐTD trình diễn những hiểu biết của em về nhà thơ Nguyễn Du ( Tên hiệu, xuất thân, thời đại, cuộc sống, sự nghiệp văn học ? ) 1516V í dụ 2 : Khi dạy bài “ Nghị luận về một vấn đề, hiện tượng kỳ lạ đời sống ” ( Tiết 99 ), sau khigiới thiệu bài mới, giáo viên ghi cụm từ khóa “ NGHỊ LUẬN SỰ VIỆC, HIỆNTƯỢNG ĐỜI SỐNG ” lên bảng, rồi mở màn tiết học với mục Tìm hiểu bài. Giáo viênvẽ nhánh chính thứ nhất, ghi tiêu đề “ I. TÌM HIỂU BÀI ”. Sau đó, cho học viên đọcvăn bản “ Bệnh lề mề ” – SGK, giáo viên đưa ra những câu hỏi dẫn dắt những em lần lượttìm hiểu : vấn đề nghị luận của bài viết, biểu lộ, nguyên do, mối đe dọa, hướng khắcphục. Sau khi khám phá xong văn bản, giáo viên chuyển sang bước hai : hình thànhkiến thức. Giáo viên vẽ nhánh chính thứ hai, ghi tiêu đề “ II. BÀI HỌC ”. Rồi dùng hệthống câu hỏi dẫn dắt, tăng trưởng những nhánh con : khái niệm, nhu yếu về nội dung, yêucầu về hình thức … tương tự như như ở bước trên. Cuối cùng là bước thứ ba “ Luyện tập ”, cách làm như trên. Kết thúc tiết dạy, ta có SĐTD trên bảng đen như sau : 17V í dụ 3 : Đối với phân môn Tiếng Việt thì sử dụng SĐTD tích hợp việc dạy học bài mớivới việc ghi bảng càng thuận tiện hơn. Ví dụ khi dạy bài “ Ôn tập Tiếng Việt ” học kỳ I ( Tiết 73 ). Sau khi trình làng bài mới, giáo viên ghi cụm từ TT “ ÔN TẬPTIẾNG VIỆT ” lên giữa bảng đen. Sau đó, dẫn dắt học viên lần lượt đi vào tìm hiểucác nội dung ôn tập theo trình tự SGK. Bắt đầu với việc mạng lưới hệ thống, củng cố kiến thứclý thuyết trải qua những câu hỏi : Chúng ta đã học qua những mục tiêu hội thoại nào ? Em hãy nhắc lại nộidung mỗi mục tiêu ? ( vẽ nhánh, ghi chú ) Tiếng Việt có những loại từ ngữ nào thường dùng để xưng hô ? Cho ví dụ mỗiloại ? ( vẽ nhánh, ghi chú ) Em có nhận xét gì về từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt ? Khi sử dụng từ ngữxưng hô em cần quan tâm điều gì ? ( vẽ nhánh, ghi chú ) Có mấy cách dẫn lại lời nói, ý nghĩ của một người hay một nhân vật ? Mỗi cách dẫn ấy khác nhau như thế nào ? ( vẽ nhánh, ghi chú ) Ta phối hợp cho học viên làm những bài tập trong mỗi nội dung ôn tập sau khi lậpSĐTD cho mỗi nhánh ( nội dung ). Cuối tiết Ôn tập, ta có SĐTD trên bảng như sau : 18N hư vậy, tất cả chúng ta hoàn toàn có thể thuận tiện sử dụng SĐTD tích hợp trong việc dạy học bàimới với dùng chính nó để cô đọng kiến thức và kỹ năng của bài học kinh nghiệm cho học viên ghi. Việc sửdụng SĐTD trong quy trình dạy học bài mới sẽ giúp học viên từng bước phát hiện, tiếp cận và sở hữu hàng loạt kiến thức và kỹ năng bài học kinh nghiệm một cách khoa học, có mạng lưới hệ thống, lôgic. Bắt đầu bài học kinh nghiệm bằng từ, cụm từ TT bộc lộ trọng tâm kiến thức và kỹ năng, thôngqua sự xu thế dẫn dắt của giáo viên, những em tự mày mò, khám phá những đơn vịkiến thức của bài học kinh nghiệm ( những ý lớn, nhỏ ) một cách liền lạc, có mạng lưới hệ thống, đến khi tiếthọc kết thúc cũng là lúc hàng loạt kỹ năng và kiến thức của bài học kinh nghiệm được cô đọng và trình diễn mộtcách sinh động, khoa học và phát minh sáng tạo trên bảng đen ( hoặc trên màn hình hiển thị ). SĐTD ấykhông chỉ phân phối cho những em “ bức tranh toàn diện và tổng thể ” về kỹ năng và kiến thức của bài học kinh nghiệm mà nócòn giúp cho những em thuận tiện nhận ra mạch lô-gic kiến thức và kỹ năng của bài học kinh nghiệm. Do đó, tất cả chúng ta hoàn toàn có thể dùng nó như phần nội dung ghi bảng của giáo viên để học viên ghichép. Tuy nhiên, tất cả chúng ta cần linh động sử dụng ở những tiết dạy, bài dạy cho phépchứ không nên lạm dụng SĐTD để khỏi phải ghi bảng ở toàn bộ những tiết dạy. Mặt khác, việc sử dụng phối hợp này càng thuận tiện hơn khi tất cả chúng ta sử dụng ứng dụng MindMap và soạn giảng bằng bài giảng điện tử. Chúng ta cũng nên đánh số thứ tự vào cáckhâu lên lớp ( tìm hiểu và khám phá bài, bài học kinh nghiệm, rèn luyện ), những ý chính trong mỗi đơn vị chức năng kiến thứccủa bài học kinh nghiệm để học viên thuận tiện trong việc theo dõi, ghi chép vào vở. Giáo viêncũng cần dành ít phút cuối tiết học, cho học viên quan sát SĐTD và thuyết trình “ đọc hiểu ” lại hàng loạt nội dung kỹ năng và kiến thức của bài học kinh nghiệm. * Sử dụng SĐTD trong việc mạng lưới hệ thống, củng cố kỹ năng và kiến thức sau mỗi bài học kinh nghiệm, mỗi phần của bài học kinh nghiệm : Sau khi dạy xong mỗi phần ( một đơn vị chức năng kiến thức và kỹ năng ) của bài học kinh nghiệm, hay mỗi bàihọc, giáo viên cho học viên tưởng tượng, nhớ lại và vẽ SĐTD để củng cố, hệ thốngphần kỹ năng và kiến thức đó, hoặc hàng loạt kiến thức và kỹ năng của bài học kinh nghiệm. Ví dụ 1 : Khi dạy tác phẩm truyện “ Chuyện người con gái Nam Xương ” của Nguyễn Dữ, sau khi hướng dẫn cho học viên tìm hiểu và khám phá xong phần một “ Vũ Nương và câu chuyệnoan khuất của nàng ” giáo viên cho những em lập SĐTD về nhân vật Vũ Nương thôngqua câu hỏi sau : Như vậy, qua phần tìm hiểu và khám phá trên, em hãy lập SĐTD để chứng minhVũ Nương là một người mẹ đảm đang, một người vợ thủy chung, một người dâu hiềnhiếu thảo ? Sau đây là SĐTD minh họa : 19V í dụ 2 : Sau khi hướng dẫn học viên khám phá xong luận cứ 3 : “ Những điểmmạnh, điểm yếu của con người Nước Ta trong bài “ Chuẩn bị hành trang vào thế kỉmới ” của Vũ Khoan, giáo viên cho học viên lập SĐTD về đặc thù của con ngườiViệt Nam. Các em sẽ nhớ lại những gì vừa được nghe, được tranh luận, được ghi chépvà vẽ SĐTD. Sau đây là SĐTD minh họa : 20V í dụ 3 : Sau khi hướng dẫn cho học viên khám phá xong văn bản “ Đấu tranh cho một thếgiới độc lập ” ( Tiết 6,7 ), giáo viên cho học viên lập SĐTD mạng lưới hệ thống kiến thức và kỹ năng của bàihọc. Đây là SĐTD củng cố, mạng lưới hệ thống kỹ năng và kiến thức cuối bài “ Chiến tranh hạt nhân ” : Ví dụ 4 : Sau khi hướng dẫn cho học viên tìm hiểu và khám phá xong văn bản “ Bàn về đọc sách ” ( Tiết91, 92 ), giáo viên cho học viên lập SĐTD mạng lưới hệ thống kiến thức và kỹ năng của bài học kinh nghiệm. Dưới đây làSĐTD củng cố, mạng lưới hệ thống kiến thức và kỹ năng bài “ Bàn về đọc sách ” : 21 * Sử dụng SĐTD trong việc ôn tập kiến thức và kỹ năng : Cũng như những cách làm trên, tất cả chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng SĐTD để ôn tập và hệthống kiến thức và kỹ năng đã học cho những em. Sau đây là một vài ví dụ : Ví dụ 1 : Cho học viên lập SĐTD mạng lưới hệ thống kiến thức và kỹ năng bài “ Ôn tập Tiếng Việt ” học kỳ II ( Tiết 139,140 ) như sau : 22V í dụ 2 : Cho học viên lập SĐTD mạng lưới hệ thống kỹ năng và kiến thức bài “ Ôn tập Truyện ” ( Tiết154, 155 ) như sau : Qua hai năm vận dụng, chất lượng thực bộ môn Ngữ văn của học viên lớp 9 tăngrõ rệt, đặc biệt quan trọng là tỉ lệ học viên yếu bộ môn trong năm học 2012 – 2013 giảm rõ ràng sovới năm trước. Kết quả đơn cử như sau : – Năm học 2011 – 2012 : LớpSốGiỏiKháTBYếuKémTrên TBlượngSL % SL % SL % SL % SL % SL % 8 3810,5 12 31,6 20 52,6 02 5,3 036 94,7 – Năm học 2012 – 2013 : ( Lớp 8 lên lớp 9 ) LớpSốGiỏilượngSL % 9 3704 10, KháTBSL % SL14 37,8 19SL51, 4 0Y ếuKémSLTrên TBSL37100Tóm lại, với những ưu điểm của mình, sơ đồ tư duy trở thành một công cụgợi mở, kích thích quy trình tìm tòi kiến thức và kỹ năng của học viên. Việc sử dụng SĐTDtrong quy trình dạy học giúp những em học tập một cách dữ thế chủ động, tích cực và huy độngđược tổng thể học viên tham gia thiết kế xây dựng bài một cách hào hứng. Cách học này còn23phát triển được năng lượng riêng của từng em không chỉ về trí tuệ ( vẽ, viết gì trênBĐTD ), hệ thống hóa kiến thức và kỹ năng ( kêu gọi những điều đã học trước đó vào việc chọnlọc những ý để ghi ), năng lực hội họa ( hình thức trình diễn, tích hợp hình vẽ, chữ viết, sắc tố ), sự vận dụng kiến thức và kỹ năng được học qua sách vở vào đời sống. Sơ đồ tư duy còn là một công cụ tư duy thực sự hiệu suất cao trong hoạt động giải trí nhómbởi nó tối đa hoá được nguồn lực của cá thể và tập thể. Mỗi thành viên đều rènluyện được năng lực tư duy, kỹ năng và kiến thức thuyết trình và thao tác khoa học. Sử dụngSĐTD giúp cho những thành viên hiểu được nội dung bài học kinh nghiệm một cách rõ ràng và hệthống. Việc ghi nhớ cũng như vận dụng cũng sẽ tốt hơn. Chỉ cần nhìn vào Sơ đồ tưduy, bất kể thành viên nào của nhóm cũng hoàn toàn có thể thuyết trình được nội dung bài học kinh nghiệm. Việc vận dụng SĐTD trong dạy học sẽ dần hình thành cho HS tư duy mạch lạc, hiểu biết yếu tố một cách thâm thúy, có cách nhìn yếu tố một cách mạng lưới hệ thống, khoa học. Sử dụng SĐTD tích hợp với những chiêu thức dạy học tích cực khác như phỏng vấn gợimở, thuyết trình, … có tính khả thi cao góp thêm phần thay đổi PPDH, đặc biệt quan trọng là đối vớicác lớp ở cấp THCS. 3. Phần kết luận3. 1. Ý nghĩa của SKKNSau một thời hạn ứng dụng SĐTD trong thay đổi chiêu thức dạy học mônNgữ văn, tôi nhận thấy trong bước đầu có những tác dụng rất khả quan. Trước hết, bản thântôi đã nhận thức được vai trò tích cực của việc ứng dụng SĐTD trong quy trình dạyhọc. Tôi đã tìm hiểu và khám phá, biết cách sử dụng SĐTĐ một cách hiệu suất cao trong hầu hết cáckhâu của quy trình lên lớp, từ việc kiểm tra bài cũ, dạy bài mới, củng cố kỹ năng và kiến thức bàihọc, ôn tập, khái quát, mạng lưới hệ thống kỹ năng và kiến thức những chương, phần …. Học sinh tiếp thu bài, nắm kỹ năng và kiến thức chắc như đinh hơn, khoa học hơn, nhanh hơn. Đa số những em học viên khá, giỏi đã biết sử dụng SĐTD để ghi chép bài, tổng hợp kỹ năng và kiến thức môn học. Những họcsinh trung bình đã biết dùng SĐTD để củng cố kỹ năng và kiến thức bài học kinh nghiệm ở mức đơn thuần. Điều quan trọng hơn là những em học tập tích cực hơn, sôi sục hơn. Các em không còntâm lý chán học, ngại học môn Ngữ văn vì phải ghi chép nhiều. Trái lại, toàn bộ rất hàohứng với việc học tập. Vì việc ứng dụng SĐTD không riêng gì tạo tác động trực quan lôicuốn những em, mà còn giúp những em ghi chép bài ngăn nắp, khoa học hơn, nhanh hơn vànhẹ nhàng hơn nhiều so với cách ghi chép trước đây. Không những thế, nếu giáo viên biết tổ chức triển khai tốt cho học viên sử dụng sơ đồ tưduy trong dạy học nhóm giúp thì nó sẽ giúp những em phát huy được tính phát minh sáng tạo, tốiđa hoá năng lực của mỗi em, đồng thời phối hợp sức mạnh của những cá thể thành sứcmạnh tập thể để hoàn toàn có thể xử lý được những yếu tố một cách hiệu suất cao. Sơ đồ tư duytạo cho mỗi thành viên thời cơ được giao lưu học hỏi và tăng trưởng chính mình mộtcách hoàn thành xong hơn. Chung quy lại, người dạy cần vận dụng 1 số ít giải pháp chínhnhằm nâng cao hiệu suất cao sử dụng Sơ đồ tư duy so với người dạy và cả người học. – Người dạy và người học cần hiểu cơ bản về sơ đồ tư duy : khái niệm, cấu trúc, những bước phong cách thiết kế, quá trình tổ chức triển khai hoạt động giải trí vẽ SĐTD trên lớp. – Giáo viên cần thành thạo trong kĩ năng sử dụng SĐTD trong quy trình tổ chứccác hoạt động giải trí dạy học. – Giáo viên giúp học viên hiểu và rèn luyện kĩ năng vẽ SĐTD trong học Ngữvăn. 24 – Giáo viên thương xuyên thực hành thực tế sử dụng SĐTD trong qú tình dạy học kếthợp hướng dẫn học viên thực hành thực tế sử dụng SĐTD trong học tập môn Ngữ văn ( trongcác hình thức kiểm tra, mạng lưới hệ thống nội dung bài học kinh nghiệm, trong ôn tập, trong dạy bài mới, … ) Tóm lại, việc vận dụng SĐTD trong dạy học, kiểm tra, nhìn nhận sẽ dần hìnhthành cho HS tư duy mạch lạc, hiểu biết yếu tố một cách thâm thúy, có cách nhìn vấn đềmột cách mạng lưới hệ thống, khoa học. Sử dụng SĐTD phối hợp với những chiêu thức dạy họctích cực khác như phỏng vấn gợi mở, thuyết trình, … có tính khả thi cao góp thêm phần đổimới PPDH, đặc biệt quan trọng là so với học viên ở cấp trung học cơ sở lúc bấy giờ. Vì vậy, việc tăngcường sử dụng SĐTD trong quy trình dạy học nói chung, trong đó có dạy học Ngữvăn là việc làm rất thiết yếu, góp thêm phần cung ứng nhu yếu của trào lưu “ Xây dựngtrường học thân thiện, học viên tích cực ” của Bộ Giáo dục và Đào tạo. 3.2. Kiến nghị, đề xuấta. Đối với giáo viên : Cần phải nắm vững những hiểu biết, kỹ năng và kiến thức cơ bản về sơ đồ tư duy : kháiniệm, cấu trúc, những bước phong cách thiết kế, quá trình tổ chức triển khai hoạt động giải trí vẽ SĐTD trên lớp vànhững tiện ích. Cần có sự xem xét khi ứng dụng SĐTD vào việc soạn, giảng, kiểm tra đánhgiá, tổ chức triển khai hoạt động giải trí cho học viên, tránh lạm dụng ; nhất là so với bộ môn Ngữ văn. Cần xác lập đúng kiến thức và kỹ năng cơ bản, trọng tâm để phong cách thiết kế SĐTD tức là phảibiết tinh lọc những ý cơ bản, những kỹ năng và kiến thức thật thiết yếu. Cần góp vốn đầu tư thời hạn hợp lý vào việc soạn bài, lập trước những SĐTD cầnthiết cho tổng thể những khâu của quy trình lên lớp so với từng bài học kinh nghiệm. a. Đối với học viên : Cần tích cực, tự giác, cũng như tăng cường giao lưu học hỏi một cách khiêmtốn ở thầy cô, bè bạn về việc vẽ, học và ghi chép với SĐTD.Thường xuyên rèn luyện kĩ năng khái quát, mạng lưới hệ thống kiến thức và kỹ năng bằng Sơ đồ tưduy, sử dụng Sơ đồ tư duy như công cụ đắc lực trong việc học tập bộ môn nhằm mục đích khắcsâu kiến một cách khoa học, lo-gic, giảm ghi chép máy móc, rườm rà. 25

5/5 - (1 vote)
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments