Biểu Hiện Của Triết Lý Âm Dương Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam, Triết Lý Âm Dương

Từ xưa đến nay, hai thái cực âm dương đã trở thành cái hồn, cái thiêng trong văn hóa truyền thống đời sống Việt .Bạn đang xem : Triết lý âm dương cơ sở văn hóa truyền thống việt nam Nó không đơn thuần chỉ là quan niệm mà cao hơn còn là triết lý của người Á Đông. Theo thời gian, những biểu hiện sinh động của tư tưởng âm dương vẫn hằn sâu trong nếp nghĩ truyền thống và hiện đại. Điều dó minh chứng sức ảnh hưởng không cùng của triết lý này cả trên chiều rộng và chiều sâu của một nền văn hóa. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung tài liệu để hiểu thêm về triết lý âm dương trong văn hóa Việt Nam.
*
Triết lý âm dương trong đời sống văn hóa việtTừ xưa đến nay, hai thái cực âm dương đã trở thành cái hồn, cái thiêng trong văn hóađời sống Việt. Nó không đơn thuần chỉ là quan niệm mà cao hơn còn là triết lý củangười Á Đông. Theo thời gian, những biểu hiện sinh động của tư tưởng âm dươngvẫn hằn sâu trong nếp nghĩ truyền thống và hiện đại. Điều dó minh chứng sức ảnhhưởng không cùng của triết lý này cả trên chiều rộng và chiều sâu của một nền vănhóa. Người ta nói đến yếu tố âm dương với nhiều bình diện ý nghĩa. Có khi nó là quanniệm trong tư duy, có khi là triết lý trong đời sống và cũng có khi là quy luật trong xãhội. Dù được nhìn nhận từ góc độ nào thì âm dương vẫn được coi là lối tư duy đẹp vàgiá trị. Nó luôn gắn liền với thực tế đời sống để thông qua đó mà khẳng định mình.Nhiều nhà nghiên cứu đã tốn không ít bút lực để giải mã triết lý âm dương. Vậy, âmdương là gì, nó từ đâu mà có…? Âm và dương vốn là hai trạng thái của những phần tửvật chất trong vũ trụ. Những phần tử này dưới sự thúc đẩy của lý cấu hiệp với nhausinh ra ngũ hành, còn gọi là ngũ đế gồm: Kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Ngũ hành chia ởbốn phương và trung tâm, trong đó:- Kim : ở phía Tây- Mộc : ở phía Đông- Thủy: ở phía Bắc- Hỏa : ở phía Nam- Thổ : ở trung tâm Giữa vạn vật luôn có sự tranh chấp và tương đối, nghĩa là có sự chống chọi nhau cứhai, bốn hoặc hơn nữa tương đối với nhau, từ đó tạo nên hai trạng thái âm và dươngđối chọi nhau. Âm là Cái, là tĩnh, là chưa hoàn bị. Dương là Đực, là động, là hoàn bị.Chẳng hạn: Mặt trăng và mặt trời, đêm và ngày, ác và thiện, thể xác và linh hồn..v.v.Theo nhiều tài liệu, vua Phục Hy (2852 – 2737 TCN) là người tìm ra nguyên tắc tươngđối âm và dương. Một đêm, nhà vua mơ thấy con ngựa Rồng lội trên sông Hoàng Hàmang trên lưng một Hà Đồ gồm những chấm đen và chấm trắng sắp cân nhau thànhhai hình lưỡng nghi: Đen là âm và trắng là dương. Những hình đó trà trộn với nhauthành bốn hình mới, gọi là Tứ Tượng. Tứ Tượng sinh ra Bát Quái, Bát Quái lại sinh ra64 Trùng Quái, sau đó lại sinh ra 4096 hình kép khác, mỗi hình gồm 12 điểm và nhưthế các hình và các điểm được nhân lên vô tận. Phục Hy thay những điểm đen bằngmột vạch cắt đôi tương ứng với hai vạch ngắn – – ký hiệu cho âm và một vạch dài,liền vào điểm trắng – ký hiệu cho dương. Tất cả những hình thức này đều được trìnhbày và cắt nghĩa trong bộ Kinh Dịch. Ngày xưa cũng như ngày nay, thuyết tương đối âm dương vẫn gắn bó mật thiết vàsâu sắc với văn hóa phương Đông, trong đó có Việt Nam. Nó được biểu hiện cụ thể,chân phương từ nhiều góc độ trong đời sống. Thứ nhất, âm dương là bản chất củagiới tự nhiên. Trong đời sống, dân tộc nào cũng va chạm với các cặp đối lập “đực –cái”, “nóng – lạnh”, “cao – thấp”…Với người nông dân, họ chú trọng sự sinh sôi, nảynở của hoa màu và con người với hai cặp đối lập Mẹ – Cha và Đất – Trời. Như vậy,Đất được đồng nhất với Mẹ, còn trời được đồng nhất với Cha. Việc hợp nhất của haicặp “Mẹ – Cha” và “Đất – Trời”chính là sự khái quát đầu tiên trên con đường dẫn tớitriết lý âm dương. Đây là yếu tố nền tảng góp phần thiết lập nên các cặp đối lập mớitrong giới tự nhiên. Từ cặp “Lạnh – Nóng” có thể suy ra: Về thời tiết thì mùa đônglạnh thuộc âm, mùa hè nóng thuộc dương. Về phương hướng, phương Bắc lạnh thuộcâm, phương Nam nóng thuộc dương. Về thời gian, ban đêm lạnh thuộc âm, ban ngàynóng thuộc dương. Hay là, đêm thì tối nên màu đêm thuộc âm, ngày thì đỏ nên màu đỏthuộc dương. Cái hay, cái đẹp của triết lý âm dương nằm ở quy luật thành tố: Khôngcó gì hoàn toàn âm hoặc hoàn toàn dương, trong âm có dương, trong dương có âm. Nócòn được phản ánh qua quy luật quan hệ: Âm dương luôn gắn bó mật thiết và chuyểnhóa cho nhau. Hai quy luật này góp phần không nhỏ vào việc đánh giá, nhìn nhận vàkhám phá giới tự nhiên từ góc độ bản chất. Thứ hai, những biểu hiện âm dương trongxã hội xưa và nay: Về mặt tư duy, dân gian vẫn nhận thức theo kiểu: “Chim sa, cánhảy chớ mừng; nhện sa, xà đón xin đừng có lo”. Đây là cách diễn đạt quy luật “trongâm có dương” và “trong âm có dương”. Ngày xưa, ông cha ta còn hình thành lối tư duyteo quan hệ nhân quả, chẳng hạn: “Sướng lắm khổ nhiều” hay “Trèo cao ngã đau”.Đây là cách diễn đạt kín đáo của quy luật “Âm dương chuyển hóa”. Ngày nay, lối tưduy âm dương này được người Việt vận dụng và kết hợp khéo léo trong đời sống vănhóa. Điều này được phản ánh qua triết lý sống quân bình: Coi trọng, đề cao sự hài hòaâm dương trong cơ thể và sự hài hòa trong giới tự nhiên. Đặc trưng quân bình các yếutố đời sống tạo ra khả năng thích nghi cao trước mọi biến cố, hoàn cảnh của dân tộcViệt từ ngàn đời. Về mặt đời sống, triết lý âm dương được biểu hiện khá rõ từ ba nhucầu cơ bản nhất: Ăn, mặc và ở. Với nhu cầu ăn, người Việt nhấn mạnh tính cộngđồng, tính mực thước truyền thống. Trong đó, tính cộng đồng được phản ánh từ việcăn tổng hợp, ăn chung; còn tính mực thước là biểu hiện của khuynh hướng quân bìnhâm dương. Nó đòi hỏi người ăn không ăn quá nhanh hay quá chậm, không ăn quá nhi ềuhay quá ít, không ăn hết hay ăn còn. Đây được xem là lối giao tiếp tế nhị, ý tứ kháchẳn tính cách cực đoan, lối giao tiếp trực khởi của người phương Tây: Khách phải ănkỳ sạch để tỏ lòng biết ơn chủ nhà. Tính cộng đồng và tính mực thước trong bữa ănthể hiện tập trung qua nồi cơm và chén nước mắm. Nồi cơm ở đầu mâm và chénnước mắm ở giữa mâm là biểu tượng cho cái đơn giản mà thiết yếu: Cơm gạo là tinhhoa của đất, mắm chiết từ cá là tinh hoa của nước – chúng giống như hành Thủy vàhành Thổ là cái khởi đầu và cái trung tâm trong Ngũ Hành. Trong nghệ thuật ẩm thực của người Việt còn thể hiện khá rõ tính linh hoạt và tínhbiện chứng. Theo đó, tính linh hoạt phản ánh trong dụng cụ ăn, đôi đũa; tính biệnchứng ở quan hệ biện chứng âm dương gồm ba mặt: 1/ Sự hài hòa âm dương của thứcăn. 2/ Sự quân bình âm dương trong cơ thể. 3/ Sự cân bằng âm dương giữa con ngườivới môi trường tự nhiên. Để tạo ra những món ăn có sự cân bằng âm dương, ngườiViệt phân biệt thức ăn theo năm thức âm và dương ứng với Ngũ Hành: Hàn (lạnh, âmnhiều = Thủy), Nhiệt (nóng, dương nhiều = Hỏa), Ôn (ấm, dương ít = Mộc), Lương(mát, âm ít =Kim), Bình (trung tính = Thổ). Theo đó, người Việt tuân thủ nghiêm ngặtluật âm dương bù trừ và chuyển hóa khi chế biến. Điều đó lý giải tại sao chén nướcchấm của người Việt dung hòa cả đủ cả Ngũ Hành: Vị mặn (thủy) của nước mắm,đắng (hỏa) của vỏ chanh, chua (mộc) của chanh giấm, cay (kim) của tiêu ớt. Để tạo rasự quân bình âm dương trong cơ thể, người Việt sử dụng thức ăn như vị thuốc vớimục đích điều chỉnh sự mất quân bình âm dương trong cơ thể. Chẳng hạn: Đau bụngnhiệt (dương) cần ăn những thứ hàn (âm) như chè đậu đen, trứng gà lá mơ. Đau bụnghàn (âm) cần dùng các thứ nhiệt dương như gừng, riềng. Để đảm bảo quân bình âmdương giữa con người với môi trường, người Việt có tập quán ăn uốn theo mùa vàvùng khí hậu.

Nó không đơn thuần chỉ là quan niệm mà cao hơn còn là triết lý của người Á Đông. Theo thời gian, những biểu hiện sinh động của tư tưởng âm dương vẫn hằn sâu trong nếp nghĩ truyền thống và hiện đại. Điều dó minh chứng sức ảnh hưởng không cùng của triết lý này cả trên chiều rộng và chiều sâu của một nền văn hóa. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung tài liệu để hiểu thêm về triết lý âm dương trong văn hóa Việt Nam.Triết lý âm dương trong đời sống văn hóa việtTừ xưa đến nay, hai thái cực âm dương đã trở thành cái hồn, cái thiêng trong văn hóađời sống Việt. Nó không đơn thuần chỉ là quan niệm mà cao hơn còn là triết lý củangười Á Đông. Theo thời gian, những biểu hiện sinh động của tư tưởng âm dươngvẫn hằn sâu trong nếp nghĩ truyền thống và hiện đại. Điều dó minh chứng sức ảnhhưởng không cùng của triết lý này cả trên chiều rộng và chiều sâu của một nền vănhóa. Người ta nói đến yếu tố âm dương với nhiều bình diện ý nghĩa. Có khi nó là quanniệm trong tư duy, có khi là triết lý trong đời sống và cũng có khi là quy luật trong xãhội. Dù được nhìn nhận từ góc độ nào thì âm dương vẫn được coi là lối tư duy đẹp vàgiá trị. Nó luôn gắn liền với thực tế đời sống để thông qua đó mà khẳng định mình.Nhiều nhà nghiên cứu đã tốn không ít bút lực để giải mã triết lý âm dương. Vậy, âmdương là gì, nó từ đâu mà có…? Âm và dương vốn là hai trạng thái của những phần tửvật chất trong vũ trụ. Những phần tử này dưới sự thúc đẩy của lý cấu hiệp với nhausinh ra ngũ hành, còn gọi là ngũ đế gồm: Kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Ngũ hành chia ởbốn phương và trung tâm, trong đó:- Kim : ở phía Tây- Mộc : ở phía Đông- Thủy: ở phía Bắc- Hỏa : ở phía Nam- Thổ : ở trung tâm Giữa vạn vật luôn có sự tranh chấp và tương đối, nghĩa là có sự chống chọi nhau cứhai, bốn hoặc hơn nữa tương đối với nhau, từ đó tạo nên hai trạng thái âm và dươngđối chọi nhau. Âm là Cái, là tĩnh, là chưa hoàn bị. Dương là Đực, là động, là hoàn bị.Chẳng hạn: Mặt trăng và mặt trời, đêm và ngày, ác và thiện, thể xác và linh hồn..v.v.Theo nhiều tài liệu, vua Phục Hy (2852 – 2737 TCN) là người tìm ra nguyên tắc tươngđối âm và dương. Một đêm, nhà vua mơ thấy con ngựa Rồng lội trên sông Hoàng Hàmang trên lưng một Hà Đồ gồm những chấm đen và chấm trắng sắp cân nhau thànhhai hình lưỡng nghi: Đen là âm và trắng là dương. Những hình đó trà trộn với nhauthành bốn hình mới, gọi là Tứ Tượng. Tứ Tượng sinh ra Bát Quái, Bát Quái lại sinh ra64 Trùng Quái, sau đó lại sinh ra 4096 hình kép khác, mỗi hình gồm 12 điểm và nhưthế các hình và các điểm được nhân lên vô tận. Phục Hy thay những điểm đen bằngmột vạch cắt đôi tương ứng với hai vạch ngắn – – ký hiệu cho âm và một vạch dài,liền vào điểm trắng – ký hiệu cho dương. Tất cả những hình thức này đều được trìnhbày và cắt nghĩa trong bộ Kinh Dịch. Ngày xưa cũng như ngày nay, thuyết tương đối âm dương vẫn gắn bó mật thiết vàsâu sắc với văn hóa phương Đông, trong đó có Việt Nam. Nó được biểu hiện cụ thể,chân phương từ nhiều góc độ trong đời sống. Thứ nhất, âm dương là bản chất củagiới tự nhiên. Trong đời sống, dân tộc nào cũng va chạm với các cặp đối lập “đực –cái”, “nóng – lạnh”, “cao – thấp”…Với người nông dân, họ chú trọng sự sinh sôi, nảynở của hoa màu và con người với hai cặp đối lập Mẹ – Cha và Đất – Trời. Như vậy,Đất được đồng nhất với Mẹ, còn trời được đồng nhất với Cha. Việc hợp nhất của haicặp “Mẹ – Cha” và “Đất – Trời”chính là sự khái quát đầu tiên trên con đường dẫn tớitriết lý âm dương. Đây là yếu tố nền tảng góp phần thiết lập nên các cặp đối lập mớitrong giới tự nhiên. Từ cặp “Lạnh – Nóng” có thể suy ra: Về thời tiết thì mùa đônglạnh thuộc âm, mùa hè nóng thuộc dương. Về phương hướng, phương Bắc lạnh thuộcâm, phương Nam nóng thuộc dương. Về thời gian, ban đêm lạnh thuộc âm, ban ngàynóng thuộc dương. Hay là, đêm thì tối nên màu đêm thuộc âm, ngày thì đỏ nên màu đỏthuộc dương. Cái hay, cái đẹp của triết lý âm dương nằm ở quy luật thành tố: Khôngcó gì hoàn toàn âm hoặc hoàn toàn dương, trong âm có dương, trong dương có âm. Nócòn được phản ánh qua quy luật quan hệ: Âm dương luôn gắn bó mật thiết và chuyểnhóa cho nhau. Hai quy luật này góp phần không nhỏ vào việc đánh giá, nhìn nhận vàkhám phá giới tự nhiên từ góc độ bản chất. Thứ hai, những biểu hiện âm dương trongxã hội xưa và nay: Về mặt tư duy, dân gian vẫn nhận thức theo kiểu: “Chim sa, cánhảy chớ mừng; nhện sa, xà đón xin đừng có lo”. Đây là cách diễn đạt quy luật “trongâm có dương” và “trong âm có dương”. Ngày xưa, ông cha ta còn hình thành lối tư duyteo quan hệ nhân quả, chẳng hạn: “Sướng lắm khổ nhiều” hay “Trèo cao ngã đau”.Đây là cách diễn đạt kín đáo của quy luật “Âm dương chuyển hóa”. Ngày nay, lối tưduy âm dương này được người Việt vận dụng và kết hợp khéo léo trong đời sống vănhóa. Điều này được phản ánh qua triết lý sống quân bình: Coi trọng, đề cao sự hài hòaâm dương trong cơ thể và sự hài hòa trong giới tự nhiên. Đặc trưng quân bình các yếutố đời sống tạo ra khả năng thích nghi cao trước mọi biến cố, hoàn cảnh của dân tộcViệt từ ngàn đời. Về mặt đời sống, triết lý âm dương được biểu hiện khá rõ từ ba nhucầu cơ bản nhất: Ăn, mặc và ở. Với nhu cầu ăn, người Việt nhấn mạnh tính cộngđồng, tính mực thước truyền thống. Trong đó, tính cộng đồng được phản ánh từ việcăn tổng hợp, ăn chung; còn tính mực thước là biểu hiện của khuynh hướng quân bìnhâm dương. Nó đòi hỏi người ăn không ăn quá nhanh hay quá chậm, không ăn quá nhi ềuhay quá ít, không ăn hết hay ăn còn. Đây được xem là lối giao tiếp tế nhị, ý tứ kháchẳn tính cách cực đoan, lối giao tiếp trực khởi của người phương Tây: Khách phải ănkỳ sạch để tỏ lòng biết ơn chủ nhà. Tính cộng đồng và tính mực thước trong bữa ănthể hiện tập trung qua nồi cơm và chén nước mắm. Nồi cơm ở đầu mâm và chénnước mắm ở giữa mâm là biểu tượng cho cái đơn giản mà thiết yếu: Cơm gạo là tinhhoa của đất, mắm chiết từ cá là tinh hoa của nước – chúng giống như hành Thủy vàhành Thổ là cái khởi đầu và cái trung tâm trong Ngũ Hành. Trong nghệ thuật ẩm thực của người Việt còn thể hiện khá rõ tính linh hoạt và tínhbiện chứng. Theo đó, tính linh hoạt phản ánh trong dụng cụ ăn, đôi đũa; tính biệnchứng ở quan hệ biện chứng âm dương gồm ba mặt: 1/ Sự hài hòa âm dương của thứcăn. 2/ Sự quân bình âm dương trong cơ thể. 3/ Sự cân bằng âm dương giữa con ngườivới môi trường tự nhiên. Để tạo ra những món ăn có sự cân bằng âm dương, ngườiViệt phân biệt thức ăn theo năm thức âm và dương ứng với Ngũ Hành: Hàn (lạnh, âmnhiều = Thủy), Nhiệt (nóng, dương nhiều = Hỏa), Ôn (ấm, dương ít = Mộc), Lương(mát, âm ít =Kim), Bình (trung tính = Thổ). Theo đó, người Việt tuân thủ nghiêm ngặtluật âm dương bù trừ và chuyển hóa khi chế biến. Điều đó lý giải tại sao chén nướcchấm của người Việt dung hòa cả đủ cả Ngũ Hành: Vị mặn (thủy) của nước mắm,đắng (hỏa) của vỏ chanh, chua (mộc) của chanh giấm, cay (kim) của tiêu ớt. Để tạo rasự quân bình âm dương trong cơ thể, người Việt sử dụng thức ăn như vị thuốc vớimục đích điều chỉnh sự mất quân bình âm dương trong cơ thể. Chẳng hạn: Đau bụngnhiệt (dương) cần ăn những thứ hàn (âm) như chè đậu đen, trứng gà lá mơ. Đau bụnghàn (âm) cần dùng các thứ nhiệt dương như gừng, riềng. Để đảm bảo quân bình âmdương giữa con người với môi trường, người Việt có tập quán ăn uốn theo mùa vàvùng khí hậu.

Xem thêm: Nạp Tiền Điện Thoại Bằng Internet Banking Vietcombank, 3 Cách Nạp Tiền Điện Thoại Vietcombank

Xem thêm: Hướng dẫn cách khóa ứng dụng trên iPhone bằng mật khẩu

Việt Nam là xứ nóng (dương) nên phần lớn nguồn thức ăn sử dụnghằng ngày đều thuộc loại bình, hàn âm như thực vật (rau, củ, quả…). Đồng thời, tínhchất dương của xứ nóng là điều kiện vô cùng thuận lợi cho các loài sản vật mang tínhâm phát triển mạnh. Điều này chứng tỏ bản thân thiên nhiên cũng đã có sự cân bằng.Vào mùa hè, người Việt thích ăn rau quả, tôm ca (âm) hơn là mỡ thịt. Thức ăn thườngnhiều nước (âm) và có vị chua (âm) với tác dụng vừa dễ tiêu hóa vừa giải nhiệt. Vàomùa đông, người Việt ở phía Bắc lại thích ăn thịt, mỡ vốn mang tính dương nhằmgiúp cơ thể chống rét. Người dân miền Trung ăn nhiều ớt (dương) do thực phẩm củahọ dồi dào hải sản biển có tính hàn, bình (âm). Từ văn hóa ẩm thực của người Việtxưa và nay, ta càng khẳng định vai trò của triết lý âm dương thủy hỏa trong việc tổchức vũ trụ và duy trì đời sống. Với nhu cầu mặc, người Việt rất đề cao hai yếu tố “dương tính” và “âm tính”. Đặtra vấn đề màu sắc chẳng hạn: Trong trang phục xưa, màu ưa thích vốn là các “màu âmtính” phù hợp với phong cách tế nhị, kín đáo của truyền thống dân tộc. Ở miền Bắc làmàu nâu, màu gụ (màu của đất); ở miền Nam là màu đen (màu của bùn). Trong lễ hội,phụ nữ Việt mặc áo dài màu thâm hoặc nâu. Ngày nay, màu sắc của trang phục cóphần đa dạng hơn theo hướng “dương tính” do ảnh hưởng từ văn hóa phương Tây.Thường thấy, trong xã hội hiện đại đàn ông mặc Âu phục, phụ nữ mặc áo nhiều màukể cả đỏ hoặc hồng. Do giao thoa với văn hóa mới từ bên ngoài nên chiếc áo dài cổtruyền Việt Nam dần được cải tiến thành áo dài tân thời từ những năm 30 của thế kỷnày. Bên cạnh những cải tiến theo hướng phô trương cái đẹp hình thể một cách trựctiếp theo kiểu phương Tây (dương tính hóa) như: Bó eo, ôm sát thân, nổi ngực… thì áodài tân thời vẫn tiếp tục kế thừa và phát triển cao độ phong cách kín đáo (âm tính hóa).Chính sự khêu gợi một cách nhuần nhị, kín đáo đã tô điểm tính cách “dương ở trongâm”. Vì lẽ đó, áo dài Việt Nam ngày càng phổ biến rộng rãi và trở thành biểu tượngcho y phục truyền thống dân tộc. Với nhu cầu ở, người Việt đặc biệt chú trọng vấn đề “phong thủy”. “Phong” và“thủy” là hai yếu tố quan trọng nhất tạo thành tạo thành vi khí hậu của một ngôi nhà.Phong là gió (thuộc dương); thủy là nước, tĩnh hơn, thuộc âm. Trong nhà, nếu có gióquá nhiều hoặc nước tù quá đọng đều không tốt. Người ta vẫn xây dựng các bìnhphong để lái gió hoặc dựng hòn non bộ để điều thủy (âm dương điều hòa) là vậy.Ngoài ra, tất cả các chi tiết của ngôi nhà được liên kết với nhau bằng “mộng”.“Mộng” là cách ghép theo nguyên lý âm dương, nghĩa là: Phần lồi ra của bộ phận nàyphải khớp với chỗ lõm tương ứng của bộ phận khác. Kỹ thuật này tạo nên sự liên kếtrất chắc chắn mà vẫn linh động giúp tháo dỡ dễ dàng. Khi cần cố định các chi tiết củangôi nhà thì dùng đing tre vuông tra vào các lỗ tròn (âm – dương). Khi lợp nhà, ngườiViệt dùng ngói âm dương: Viên sấp, viên ngửa khác với ngói ống Trung Hoa. Tronghình thức kiến trúc thường coi trọng bên trái và số lẻ. Tất cả đều từ triết lý âm dươngmà ra. Thứ ba, những biểu hiện âm dương trong tín ngưỡng xưa và nay. Với tín ngưỡng phồn thực (phồn = nhiều, thực = nảy nở), người Việt tái khẳng địnhsự tồn tại của triết lý âm dương. Thực tế, đây chỉ là hai mặt của một vấn đề. Ở ViệtNam, tín ngưỡng phồn thực biểu hiện ở hai dạng: Thờ cơ quan sinh dục và thờ hành vigiao phối. Dễ dàng nhận thấy điều này ở các nhà mồ Tây Nguyên hoặc tục “giã cốiđón dâu” của người Việt. Chiếc trống đồng – biểu tượng sức mạnh và quyền uy củangười xưa thực ra là biểu tượng toàn diện của tín ngưỡng phồn thực. Ngay cả hìnhảnh về chùa Một Cột (âm) được đặt trên một cột tròn (dương), cột tròn lại đặt trongcái hồ vuông (âm)… đều liên quan đến tín ngưỡng phồn thực. Không phải ngẫu nhiênmà cái mõ bằng gỗ (mộc) đặt ở bên trái (phương Đông) là dương, cái chuông bằngđồng (kim) ở bên phải (phương Tây) là âm. Tiếng mõ và chuông tạo âm dương hòahợp. Với tín ngưỡng sung bái tự nhiên, ông cha ta coi trọng tín ngưỡng đa thần, lấy chấtâm tính làm căn bản. Chất âm tính của văn hóa nông nghiệp dẫn đến lối sống tìnhcảm, trọng nữ; theo đó mà các nữ thần chiếm ưu thế (tục thờ Mẫu). Người Việt xưacòn thờ cả động và thực vật. Theo truyền thuyết, tổ tiên người Việt là giống “RồngTiên”. Tiên – Rồng là một cặp đôi chỉ có trong lối tư duy theo triết lý âm dương. Đócũng là hai loài biểu trưng cho phương Nam và phương Đông trong ngũ hành. Với tín ngưỡng sung bái con người, người Việt đặc biệt coi trọng mối liên hệ giữaâm và dương. Theo người xưa, chết là từ động thành tĩnh nên với triết lý âm dương thìhồn đi từ cõi dương (trần gian) sang cõi âm (âm phủ). Với niềm tin chết là về với tổtiên (“Sống gửi thác về”), người Việt rất coi trọng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Tụcxưa tin rằng dương sao âm vậy và cũng có một cuộc sống ở cõi âm như cuộc sốngngười trần trên dương thế. Tức là, người chết cũng ăn uống và tiêu pha như ngườisống. Do vậy, ông cha ta vốn coi trọng lễ đốt mã trong ngày cúng giỗ. Người sốngsắm sửa quần áo, giường màn, bát đĩa, xe cộ, thuyền bè cho người chết; thậm chí cònđốt hình nhân để hóa người hầu hạ kẻ đã khuất. Tóm lại, triết lý âm dương trong đời sống văn hóa Việt xưa và nay biểu hiện chủyếu ở các góc độ: Tự nhiên, xã hội lẫn tín ngưỡng. Nó góp phần tôn vinh giá trị truyềnthống mà vẫn dung hòa với vẻ đẹp hiện đại trong mỗi nếp nhà người Việt. Triết lí âm dương trong tính cách người ViệtTrong cuộc sống, ta thường bắt gặp các cặp đối lập: đực – cái, nóng – lạnh, cao- thấp,…người làm nông, không những thế, còn luôn mong sao cho mùa màng bội thu và giađình đông đúc, tức là quan tâm đến sự sinh sôi nảy nở của hoa màu và con người với 2cặp đối lập: Mẹ – cha, Trời – đất.Đối với nông nghiệp lúa nước điều này lại càng bội phần hệ trọng: Nghề lúa nướcmang tính thời vụ rất cao, do vậy cần đông người làm, “đông tay hơn hay làm” vì thờixưa đất rộng, người còn thưa.Triết lí âm dương là sản phẩm trừu tượng hóa từ ý niệm và ước mơ của cư dân nôngnghiệp về sự sinh sản của hoa mà và con người. Từ 2 cặp đối lập gốc mẹ-cha, trời-đất, người xưa đần dần suy ra hàng loạt cặp đối lập như những thuộc tính của âmdương. Lối tư duy đó tạo nên ở người Đông Nam Á cổ đại quan niệm “lưỡng phânlưỡng hợp” (nhị nguyên) có phần chất phác và thô sơ về thế giới.Tư duy lưỡng phân lưỡng hợp, trên cơ sở các cặp đối lập rõ nét, người Đông Nam Áxưa hẳn đã mở rộng dần ra để tìm cách xác lập bản chất âm dương cho những kháiniệm, những sự vật biệt lập. Quá trình này đã dẫn đến sự cảm nhận tính 2 mặt củaâm dương và quan hệ chuyển hóa lẫn nhau giữa chúng. Có lẽ ý niệm còn có phần hồnnhiên và chất phác đó đã là tiền đề giúp cho tổ tiên người Hán phạm trù hóa và hệthống chúng thành triết lí âm dương.☼♥ Ở người Việt Nam, tư duy lưỡng phân lưỡng hợp bộc lộ rất rõ nét qua khuynhhướng cặp đôi ở khắp nơi : từ tư duy đến cách sống, từ các dấu vết cổ xưa đếnnhững thói quen hiện đại.- Trên thế giới, vật tổ thường là các loài động vật cụ thể : chim ưng, đại bàng, chó sói,bò… thì vật tổ người Việt là một cặp đôi trừu tượng: “tiên-rồng”. Ở người Mường là“chim Ây-cái Ứa”, người Tày “Bác Luông-Slao Cải”, người Thái là “ nàng Kè-tạoCặp”… đó chính là những chứng cớ, dấu vết của tư duy âm dương thời xa xưa.- Ở Vietj Nam, mọi thé thường đi đôi thành cặp theo nguyên tắc âm dương hài hòa:Ông Đồng-bà Cốt, đồng Cô-đồng Cậu, đồng Đức Ông-đồng Đức Bà…..Khi xin âmdương lợp nhà phải viên ngửa, viên sấp; khi ghép gỗ thì phải 1 tấm có gờ lồi ra khớpvới tấm kia có rãnh lõm vào… Lối tư duy âm dương khiến người Việt nói đến núi ,đất thì liền nghĩ ngay tới nước. Nhắc đến cha nghĩ ngay đến mẹ: “Công cha như núiThái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”- Tổ quốc đối với người Việt Nam là 1 khối âm dương: “đất nước” : đất-nước, núi-nước, non-nước, lửa-nước, là những cặp khái niệm thường trực. Ở Tây Nguyen,phần lớn các địa danh đều bắt đầu bằng “chư” (núi) như Chư sê và “k rông”, “dak”( sông, nước) như: Kroong pa, Dak B’la. Một thời ở Tây Nguyên đã từng tồn tại cácvương quốc của vua Lửa (pơ ta Pui) và vua nước (Pơ tao Ia).- Ngay cả những khái niệm vay mượn đơn độc, khi nào Việt Nam cũng nhân đôi thànhcặp : Ở Trung Hoa có ông Tơ Hồng chuyên mai mối thì sang Việt Nam trở thành cặpđôi ông Tơ – bà Nguyệt. Ở Ấn Độ chỉ có Phật ông thì vào Việt Nam xuất hiện thêmPhật Bà (mà người Mường gọi là Bụt Đực, Bụ Cái)….- Người Việt Nam “có vuông có tròn” :“Mẹ tròn,con vuông”, “ Ba vuông bảy tròn” ( Thành ngữ) ; “Ba vuông sánh với bảytròn / Đời cha vinh hiển đời con sang giàu”, “Lạy trời cho đặng vuông tròn / Trăm nămcho đặng lòng son với chàng” ( Ca dao) ,“trăm năm tính cuộc vuông tròn / Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông / Nghĩ mìnhphận mỏng cánh chuồn / Khuôn xanh biết có vuông tròn mà hay” ( Truyện Kiều –Nguyễn Du).Biểu tượng vuông-tròn, tròn vuông lồng lên nhau còn xuất hiện ở rìa ngoài mặt trốngđồng Yên Bồng : Trời tròn vì trời là dương, đất vuông vì đất là âm, nên biểu tượngtrời là hình tròn, đất là hình vuông (như trong hình ảnh chiếc bánh chưng, bánh giàyvây).☼♥ Người Việt Nam còn nhận thức rõ về 2 quy luật của triết lí âm dương.Nước Ta là xứ nóng ( dương ) nên phần nhiều nguồn thức ăn sử dụnghằng ngày đều thuộc loại bình, hàn âm như thực vật ( rau, củ, quả … ). Đồng thời, tínhchất dương của xứ nóng là điều kiện kèm theo vô cùng thuận tiện cho những loài sản vật mang tínhâm tăng trưởng mạnh. Điều này chứng tỏ bản thân vạn vật thiên nhiên cũng đã có sự cân đối. Vào mùa hè, người Việt thích ăn rau quả, tôm ca ( âm ) hơn là mỡ thịt. Thức ăn thườngnhiều nước ( âm ) và có vị chua ( âm ) với công dụng vừa dễ tiêu hóa vừa giải nhiệt. Vàomùa đông, người Việt ở phía Bắc lại thích ăn thịt, mỡ vốn mang tính dương nhằmgiúp khung hình chống rét. Người dân miền Trung ăn nhiều ớt ( dương ) do thực phẩm củahọ dồi dào món ăn hải sản biển có tính hàn, bình ( âm ). Từ văn hóa truyền thống nhà hàng của người Việtxưa và nay, ta càng khẳng định chắc chắn vai trò của triết lý âm dương thủy hỏa trong việc tổchức thiên hà và duy trì đời sống. Với nhu yếu mặc, người Việt rất tôn vinh hai yếu tố “ dương thế ” và “ âm tính ”. Đặtra yếu tố sắc tố ví dụ điển hình : Trong phục trang xưa, màu ưa thích vốn là những “ màu âmtính ” tương thích với phong thái tế nhị, kín kẽ của truyền thống cuội nguồn dân tộc bản địa. Ở miền Bắc làmàu nâu, màu gụ ( màu của đất ) ; ở miền Nam là màu đen ( màu của bùn ). Trong tiệc tùng, phụ nữ Việt mặc áo dài màu thâm hoặc nâu. Ngày nay, sắc tố của phục trang cóphần phong phú hơn theo hướng “ dương thế ” do tác động ảnh hưởng từ văn hóa truyền thống phương Tây. Thường thấy, trong xã hội văn minh đàn ông mặc Âu phục, phụ nữ mặc áo nhiều màukể cả đỏ hoặc hồng. Do giao thoa với văn hóa truyền thống mới từ bên ngoài nên chiếc áo dài cổtruyền Nước Ta dần được cải tiến thành áo dài tân thời từ những năm 30 của thế kỷnày. Bên cạnh những nâng cấp cải tiến theo hướng phô trương cái đẹp hình thể một cách trựctiếp theo kiểu phương Tây ( dương thế hóa ) như : Bó eo, ôm sát thân, nổi ngực … thì áodài tân thời vẫn liên tục thừa kế và tăng trưởng cao độ phong thái kín kẽ ( âm tính hóa ). Chính sự khêu gợi một cách nhuần nhị, kín kẽ đã tô điểm tính cách “ dương ở trongâm ”. Vì lẽ đó, áo dài Nước Ta ngày càng thông dụng thoáng rộng và trở thành biểu tượngcho y phục truyền thống cuội nguồn dân tộc bản địa. Với nhu yếu ở, người Việt đặc biệt quan trọng chú trọng yếu tố “ tử vi & phong thủy ”. “ Phong ” và “ thủy ” là hai yếu tố quan trọng nhất tạo thành tạo thành vi khí hậu của một ngôi nhà. Phong là gió ( thuộc dương ) ; thủy là nước, tĩnh hơn, thuộc âm. Trong nhà, nếu có gióquá nhiều hoặc nước tù quá đọng đều không tốt. Người ta vẫn kiến thiết xây dựng những bìnhphong để lái gió hoặc dựng hòn non bộ để điều thủy ( âm dương điều hòa ) là vậy. Ngoài ra, toàn bộ những cụ thể của ngôi nhà được link với nhau bằng “ mộng ”. “ Mộng ” là cách ghép theo nguyên tắc âm dương, nghĩa là : Phần lồi ra của bộ phận nàyphải khớp với chỗ lõm tương ứng của bộ phận khác. Kỹ thuật này tạo nên sự liên kếtrất chắc như đinh mà vẫn linh động giúp tháo dỡ thuận tiện. Khi cần cố định và thắt chặt những chi tiết cụ thể củangôi nhà thì dùng đing tre vuông tra vào những lỗ tròn ( âm – dương ). Khi lợp nhà, ngườiViệt dùng ngói âm dương : Viên sấp, viên ngửa khác với ngói ống Nước Trung Hoa. Tronghình thức kiến trúc thường coi trọng bên trái và số lẻ. Tất cả đều từ triết lý âm dươngmà ra. Thứ ba, những bộc lộ âm dương trong tín ngưỡng xưa và nay. Với tín ngưỡng phồn thực ( phồn = nhiều, thực = nảy nở ), người Việt tái khẳng địnhsự sống sót của triết lý âm dương. Thực tế, đây chỉ là hai mặt của một yếu tố. Ở ViệtNam, tín ngưỡng phồn thực biểu lộ ở hai dạng : Thờ cơ quan sinh dục và thờ hành vigiao phối. Dễ dàng nhận thấy điều này ở những nhà mồ Tây Nguyên hoặc tục “ giã cốiđón dâu ” của người Việt. Chiếc trống đồng – hình tượng sức mạnh và quyền uy củangười xưa thực ra là hình tượng tổng lực của tín ngưỡng phồn thực. Ngay cả hìnhảnh về chùa Một Cột ( âm ) được đặt trên một cột tròn ( dương ), cột tròn lại đặt trongcái hồ vuông ( âm ) … đều tương quan đến tín ngưỡng phồn thực. Không phải ngẫu nhiênmà cái mõ bằng gỗ ( mộc ) đặt ở bên trái ( phương Đông ) là dương, cái chuông bằngđồng ( kim ) ở bên phải ( phương Tây ) là âm. Tiếng mõ và chuông tạo âm dương hòahợp. Với tín ngưỡng sung bái tự nhiên, ông cha ta coi trọng tín ngưỡng đa thần, lấy chấtâm tính làm cơ bản. Chất âm tính của văn hóa truyền thống nông nghiệp dẫn đến lối sống tìnhcảm, trọng nữ ; theo đó mà những nữ thần chiếm lợi thế ( tục thờ Mẫu ). Người Việt xưacòn thờ cả động và thực vật. Theo truyền thuyết thần thoại, tổ tiên người Việt là giống “ RồngTiên ”. Tiên – Rồng là một đôi bạn trẻ chỉ có trong lối tư duy theo triết lý âm dương. Đócũng là hai loài biểu trưng cho phương Nam và phương Đông trong ngũ hành. Với tín ngưỡng sung bái con người, người Việt đặc biệt quan trọng coi trọng mối liên hệ giữaâm và dương. Theo người xưa, chết là từ động thành tĩnh nên với triết lý âm dương thìhồn đi từ cõi dương ( trần gian ) sang âm tính ( âm ti ). Với niềm tin chết là về với tổtiên ( “ Sống gửi thác về ” ), người Việt rất coi trọng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Tụcxưa tin rằng dương sao âm vậy và cũng có một đời sống ở âm tính như cuộc sốngngười trần trên dương thế. Tức là, người chết cũng siêu thị nhà hàng và tiêu pha như ngườisống. Do vậy, ông cha ta vốn coi trọng lễ đốt mã trong ngày cúng giỗ. Người sốngsắm sửa quần áo, giường màn, bát đĩa, xe cộ, thuyền bè cho người chết ; thậm chí còn cònđốt hình nhân để hóa người hầu hạ kẻ đã khuất. Tóm lại, triết lý âm dương trong đời sống văn hóa truyền thống Việt xưa và nay biểu lộ chủyếu ở những góc nhìn : Tự nhiên, xã hội lẫn tín ngưỡng. Nó góp thêm phần tôn vinh giá trị truyềnthống mà vẫn dung hòa với vẻ đẹp văn minh trong mỗi nếp nhà người Việt. Triết lí âm dương trong tính cách người ViệtTrong đời sống, ta thường phát hiện những cặp trái chiều : đực – cái, nóng – lạnh, cao – thấp, … người làm nông, không những thế, còn luôn mong sao cho mùa màng bội thu và giađình đông đúc, tức là chăm sóc đến sự sinh sôi nảy nở của hoa màu và con người với 2 cặp trái chiều : Mẹ – cha, Trời – đất. Đối với nông nghiệp lúa nước điều này lại càng bội phần hệ trọng : Nghề lúa nướcmang tính thời vụ rất cao, do vậy cần đông người làm, “ đông tay hơn hay làm ” vì thờixưa đất rộng, người còn thưa. Triết lí âm dương là loại sản phẩm trừu tượng hóa từ ý niệm và tham vọng của dân cư nôngnghiệp về sự sinh sản của hoa mà và con người. Từ 2 cặp trái chiều gốc mẹ-cha, trời-đất, người xưa đần dần suy ra hàng loạt cặp trái chiều như những thuộc tính của âmdương. Lối tư duy đó tạo nên ở người Khu vực Đông Nam Á cổ đại quan niệm “ lưỡng phânlưỡng hợp ” ( nhị nguyên ) có phần chất phác và thô sơ về quốc tế. Tư duy lưỡng phân lưỡng hợp, trên cơ sở những cặp trái chiều rõ nét, người Đông Nam Áxưa hẳn đã lan rộng ra dần ra để tìm cách xác lập thực chất âm dương cho những kháiniệm, những sự vật khác biệt. Quá trình này đã dẫn đến sự cảm nhận tính 2 mặt củaâm dương và quan hệ chuyển hóa lẫn nhau giữa chúng. Có lẽ ý niệm còn có phần hồnnhiên và chất phác đó đã là tiền đề giúp cho tổ tiên người Hán phạm trù hóa và hệthống chúng thành triết lí âm dương. ☼ ♥ Ở người Nước Ta, tư duy lưỡng phân lưỡng hợp thể hiện rất rõ nét qua khuynhhướng hai bạn trẻ ở khắp nơi : từ tư duy đến cách sống, từ những dấu vết cổ xưa đếnnhững thói quen văn minh. – Trên quốc tế, vật tổ thường là những loài động vật hoang dã đơn cử : chim ưng, đại bàng, chó sói, bò … thì vật tổ người Việt là một cặp đôi trừu tượng : “ tiên-rồng ”. Ở người Mường là “ chim Ây-cái Ứa ”, người Tày “ Bác Luông-Slao Cải ”, người Thái là “ nàng Kè-tạoCặp ” … đó chính là những chứng cớ, dấu vết của tư duy âm dương thời thời xưa. – Ở Vietj Nam, mọi thé thường đi đôi thành cặp theo nguyên tắc âm dương hòa giải : Ông Đồng-bà Cốt, đồng Cô-đồng Cậu, đồng Đức Ông-đồng Đức Bà … .. Khi xin âmdương lợp nhà phải viên ngửa, viên sấp ; khi ghép gỗ thì phải 1 tấm có gờ lồi ra khớpvới tấm kia có rãnh lõm vào … Lối tư duy âm dương khiến người Việt nói đến núi, đất thì liền nghĩ ngay tới nước. Nhắc đến cha nghĩ ngay đến mẹ : “ Công cha như núiThái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra ” – Tổ quốc so với người Nước Ta là 1 khối âm dương : “ quốc gia ” : đất-nước, núi-nước, non-nước, lửa-nước, là những cặp khái niệm thường trực. Ở Tây Nguyen, hầu hết những địa điểm đều khởi đầu bằng “ chư ” ( núi ) như Chư sê và “ k rông ”, “ dak ” ( sông, nước ) như : Kroong pa, Dak B’la. Một thời ở Tây Nguyên đã từng sống sót cácvương quốc của vua Lửa ( pơ ta Pui ) và vua nước ( Pơ tao Ia ). – Ngay cả những khái niệm vay mượn đơn độc, khi nào Nước Ta cũng nhân đôi thànhcặp : Ở Trung Quốc có ông Tơ Hồng chuyên mai mối thì sang Nước Ta trở thành cặpđôi ông Tơ – bà Nguyệt. Ở Ấn Độ chỉ có Phật ông thì vào Nước Ta Open thêmPhật Bà ( mà người Mường gọi là Bụt Đực, Bụ Cái ) …. – Người Nước Ta “ có vuông có tròn ” : “ Mẹ tròn, con vuông ”, “ Ba vuông bảy tròn ” ( Thành ngữ ) ; “ Ba vuông sánh với bảytròn / Đời cha vinh hiển đời con sang giàu ”, “ Lạy trời cho đặng vuông tròn / Trăm nămcho đặng lòng son với chàng ” ( Ca dao ), “ trăm năm tính cuộc vuông tròn / Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông / Nghĩ mìnhphận mỏng cánh chuồn / Khuôn xanh biết có vuông tròn mà hay ” ( Truyện Kiều – Nguyễn Du ). Biểu tượng vuông-tròn, tròn vuông lồng lên nhau còn Open ở rìa ngoài mặt trốngđồng Yên Bồng : Trời tròn vì trời là dương, đất vuông vì đất là âm, nên biểu tượngtrời là hình tròn trụ, đất là hình vuông vắn ( như trong hình ảnh chiếc bánh chưng, bánh giàyvây ). ☼ ♥ Người Nước Ta còn nhận thức rõ về 2 quy luật của triết lí âm dương .Xem thêm : Cách Tính Chi Phí Xây Nhà 2 Tầng 40M2, Chi Phí Xây Nhà 2 Tầng Áp Dụng Giá Vlxd 2020 Nhữngquan niệm dân gian kiểu “trong rủi có may”, “trong dở có hay”, “Trong họa có phúc” ,“Chim sa, cá nhay chớ mừng / Nhện sa, xà đón xin đừng có lo”….là sự diễn đạt cụ thểcủa “trong âm có dương trong dương có âm”. Quy luật âm dương chuyển hóa được cụthể thành những nhận thức dân gian : “ Sướng lắm, khổ nhiều”, “Yêu nhau lắm, cắnnhau đau”, “Trèo cao, ngã đau” ,…Chính nhờ lối tư duy âm dương từ trong máu thịt mà người Việt Nam có được triết lísống quân bình: Trong cuộc sống hàng ngày, gắng không làm mất lòng ai; Trong ăn ở,gắng giữ gìn sự hài hòa âm dương trong cơ thể và hài hòa với môi trường tự nhiên…Triết lí quân bình âm dương được vận dụng không chỉ cho người sống mà ngay cảngười chết: Trong chùa, hộ pháp có ông Thiện – ông Ác( Thiện trước, ác sau), trongcác ngôi mộ cổ ở Lạch Trường TK III TCN được gióng theo Nam Bắc, các đồ vật làmbằng gỗ (dương) được đặt ở phía Bắc (âm), các vật bằng gốm (âm ) lại được đặt ởphía Nam (dương ) – cách sắp xếp âm dương bù trừ nhau để tạo ra sự quân bình.Triết lí quân bình âm dương này tạo ra ở người Việt khả năng thích nghi cao với mọihoàn cảnh, lối sống ( lối sống linh hoạt), dù khó khăn tới đâu vẫn không chán nản.Người Việt Nam còn là dân tộc sống bằng tương lai (tinh thần lạc quan ) : thời trai trẻkhổ thì về già sẽ sướng ( không ai giàu ba họ, không ai khó 3 đời….)
Nhữngquan niệm dân gian kiểu “ trong rủi có may ”, “ trong dở có hay ”, “ Trong họa có phúc ”, “ Chim sa, cá nhay chớ mừng / Nhện sa, xà đón xin đừng có lo ” …. là sự diễn đạt cụ thểcủa “ trong âm có dương trong dương có âm ”. Quy luật âm dương chuyển hóa được cụthể thành những nhận thức dân gian : “ Sướng lắm, khổ nhiều ”, “ Yêu nhau lắm, cắnnhau đau ”, “ Trèo cao, ngã đau ”, … Chính nhờ lối tư duy âm dương từ trong máu thịt mà người Nước Ta có được triết lísống quân bình : Trong đời sống hàng ngày, gắng không làm mất lòng ai ; Trong ăn ở, gắng giữ gìn sự hòa giải âm dương trong khung hình và hòa giải với môi trường tự nhiên tự nhiên … Triết lí quân bình âm dương được vận dụng không riêng gì cho người sống mà ngay cảngười chết : Trong chùa, hộ pháp có ông Thiện – ông Ác ( Thiện trước, ác sau ), trongcác ngôi mộ cổ ở Lạch Trường TK III TCN được gióng theo Nam Bắc, những vật phẩm làmbằng gỗ ( dương ) được đặt ở phía Bắc ( âm ), những vật bằng gốm ( âm ) lại được đặt ởphía Nam ( dương ) – cách sắp xếp âm dương bù trừ nhau để tạo ra sự quân bình. Triết lí quân bình âm dương này tạo ra ở người Việt năng lực thích nghi cao với mọihoàn cảnh, lối sống ( lối sống linh động ), dù khó khăn vất vả tới đâu vẫn không chán nản. Người Nước Ta còn là dân tộc bản địa sống bằng tương lai ( ý thức sáng sủa ) : thời trai trẻkhổ thì về già sẽ sướng ( không ai giàu ba họ, không ai khó 3 đời …. )

5/5 - (2 votes)
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments