Khái niệm về quá trình dạy học

Khái niệm về quá trình dạy học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (59 KB, 10 trang )

Ban về mối quan hệ dạy học và sự phát triển tâm ly của L.X. Vygotsky
viết: “dạyhọc phải đi trước sự phát triển và kéo sự phát triển đi theo nó”
Anh chị hảy bình luận về ý kiến trên .trong điều kiện dạy học hiện nay
theo anh chị chúng ta cần thực hiện những thay đổi nào để đảm bảo hoạt động
dạy học thực sự tạo ra sự phát triển ở người học.
Bản chất tâm lý của hoạt động dạy học

I. Khái niệm về quá trình dạy học
1. Định nghĩa:
QTDH là một quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người giáo
viên, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động
nhận thức, học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học.
Từ khái niệm trên ta thấy trong QTDH, hoạt động dạy và hoạt động học liên hệ
mật thiết với nhau, diễn ra đồng thời và phối hợp chặt chẽ, tạo nên sự cộng
hưởng của hoạt động dạy và hoạt động học, từ đó tạo nên hiệu quả cho QTDH.
2. QTDH là một hệ thống toàn vẹn
+ Khái niệm hệ thống toàn vẹn:
Là một hệ thống bao gồm các thành tố liên hệ, tương tác với nhau tạo nên chất
lượng mới.
+ Khi xem xét QTDH ở một thời điểm nhất định, nó bao gồm những thành tố
như: Mục đích DH, nội dung DH, PP, PT DH, giáo viên, học sinh… Các thành
tố này có quan hệ mật thiết với nhau: MĐ dạy học định hướng cho các thành tố
khác trong QTDH, mục đích này được hiện thực hóa bằng nội dung DH. Người
GV với hoạt động dạy của mình, với những PP, PT HTTC DH tác động đến
động cơ của người học để thúc đẩy người học học tập. Sự tác động lẫn nhau
giữa GV và HS sẽ tạo nên kết quả dạy – học. Mặt khác hoạt động dạy và học
còn chịu sự tác động của môi trường bên ngoài xã hội (kinh tế, văn hóa,
KHCN…). Môi trường tạo nên sự thuận lợi hay không thuận lợi cho QTDH.
3. Bản chất của QTDH
Bản chất của QTDH là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh. *

1

Trước tiên, ta khẳng định học là một hoạt động nhận thức. Vậy thế nào là hoạt
động nhận thức?
Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào não người
– đó là sự phản ánh tâm lý của con người bắt đầu từ cảm giác đến tư duy, tưởng
tượng. Sự học tập của học sinh cũng là quá trình như vậy. Đó là sự phản ánh đi
trước, có tính chất cải tạo mà mức độ cao nhất là sự sáng tạo. Sự phản ánh đó bị
khúc xạ qua lăng kính chủ quan của mỗi người (như qua kinh nghiệm, nhu cầu,
hứng thú…), và đó là sự phản ánh tích cực của mỗi chủ thể.
– Quá trình học tập của học sinh cũng diễn ra theo công thức của V.I.Leenin về
quá trình nhận thức: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy
trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý,
nhận thức hiện thực khách quan”. * Tuy nhiên, trong QTDH, nhận thức của học
sinh còn thể hiện tính độc đáo, cụ thể như sau: – QT nhận thức của học sinh
không phải là quá trình tìm ra cái mới cho nhân loại mà chủ yếu là sự tái tạo
những tri thức của loài người đã tạo ra.
– QT nhận thức của học sinh không diễn ra theo con đường mò mẫm, thử và sai
như quá trình nhận thức nói chung của loài người, mà diễn ra theo con đường đã
được khám phá, được những nhà xây dựng chương trình, nội dung dạy học gia
công sư phạm. Vì vậy, trong một thời gian nhất định, học sinh có thể lĩnh hội
khối lượng tri thức rất lớn một cách thuận lợi.
– QT học tập của học sinh phải tiến hành theo các khâu của QTDH.
– QT nhận thức của học sinh trong QTDH diễn ra dưới vai trò chủ đạo của
người giáo viên cùng với những điều kiện sư phạm nhất định. Kết luận: Như vậy
bản chất của QTDH là hoạt động nhận thức độc đáo của học sinh.
II. Thuyết Của Vygotsky Trong Hoạt Động Học
Lý thuyết về văn hoá xã hội do Lev Vygotsky khởi xướng nhấn mạnh đến
tầm quan trọng của yếu tố xã hội và văn hoá có tác động đến sự phát triển nhận

thức của trẻ em. Hai yếu tố này tác động thông qua sự tương tác của trẻ với đồ
vật và với người lớn hay nói cách khác đó là sự tương tác xã hội – đóng vai trò
cơ bản trong sự phát triển nhận thức.
Vygotsky khẳng định: “Tất cả các chức năng trong phát triển văn hóa của
trẻ xuất hiện hai lần: đầu tiên, trên bình diện xã hội và sau đó ở cấp độ cá nhân;
đầu tiên, giữa những con người (liên tâm lý) và sau đó bên trong đứa trẻ (nội
tâm lý)”.
2

Giống như người cùng thời với ông – Piaget – Vygotsky tin rằng trẻ em là
những người tích cực xây nên kiến thức và những kỹ năng của chính chúng. Ông
tin rằng sự phát triển của trẻ em là kết quả của sự tương tác giữa đứa trẻ và môi
trường xã hội của nó.
Thông qua hoạt động chơi, trẻ sẽ có được ý nghĩa trừu tượng về sự vật,
phân biệt được vật này với vật khác và làm cho chúng nhận thức đầy đủ hơn về
thế giới xung quanh. Ví dụ: khi trẻ xưng hô là anh, em với búp bê có nghĩa là lúc
này đứa trẻ đã nhận thức được vai trò, nhiệm vụ của mình trong gia đình là như
thế nào. Đứa trẻ có thể dùng cái gối làm em bé, cái nắp làm cái tô, cây que là cái
muỗng – những đồ vật đó có tính tượng trưng cho em bé thật và đồ nấu ăn thật
mà bé chưa thể sử dụng thành thục được.
Hoạt động chơi không những giúp trẻ học được những kỹ năng, những
quy luật xã hội mà còn giúp trẻ tự điều chỉnh bản thân mình. Ví như một đứa trẻ
đang đứng tại vạch xuất phát trong cuộc thi bơi lội cùng với những trẻ khác, đứa
trẻ nào cũng muốn nhảy xuống nước bơi ngay nhưng quy định xã hội giúp trẻ
phải chờ đợi có dấu hiệu xuất phát mới được bơi.
Ảnh hưởng của văn hóa – xã hội đến sự phát triển nhận thức: Vygotsky
cho rằng trẻ em sinh ra đã có những năng lực cơ bản cho sự phát triển trí tuệ,
được biểu hiện thông qua sự chú ý, nhận thức, trí nhớ…
Trẻ em rất tò mò và chính sự tò mò ấy sẽ làm cho chúng tích cực tham gia

vào việc học hỏi để phát hiện và phát triển thêm những vốn hiểu biết mới do văn
hóa – xã hội đem lại.
Trẻ sẽ được học tập những điều quan trọng nếu như trẻ có sự tương tác xã
hội với một người có sự khéo léo, có năng lực tốt. Ví dụ: đứa trẻ có thể khó khăn
trong việc ghép hình nhưng sẽ dễ dàng đối với chúng khi có một người ngồi
cạnh bên mô tả hoặc thể hiện một số động tác cơ bản, chẳng hạn như việc tìm
kiếm tất cả các góc, cạnh, cung cấp một vài miếng ghép điển hình và khuyến
khích khi trẻ ghép được một mảnh ghép, như thế sẽ giúp cho trẻ học hỏi nhanh
hơn và tạo cho trẻ cảm giác thoải mái, thích thú hơn trong việc học.
Vùng phát triển gần (ZPD – Zone of Proximal Development): đề cập đến
việc học tập và thực hiện độc lập một nhiệm vụ thông qua tương tác của trẻ với
bạn bè hoặc những người xung quanh.
Ví dụ: đứa con không thể biết cách thắc dây giày và đó là sự khó khăn đối
với nó nếu không có sự hướng dẫn, chỉ dạy của người cha hay người xung

3

quanh, dần dần với những kỹ năng trẻ học được, trẻ có thể độc lập làm những
động tác ấy mà không cần đến sự giúp đỡ của người khác.
Ví dụ khác: lúc đầu trẻ sẽ không biết cách chơi nhảy dây, bắn bi, ô ăn
quan… ra sao nhưng qua sự tương tác, học hỏi bạn bè xung quanh đã giúp trẻ
biết được cách chơi trò chơi đó như thế nào. Không những vậy, với những kiến
thức về trò chơi đó trẻ có thể tự tổ chức và làm phong phú thêm trò chơi cho
mình.
Vygotsky thấy khu phát triển gần như là khu vực nhạy cảm nhất đối với
sự học tập thông qua học hỏi của đứa trẻ, cho phép đứa trẻ phát triển những kỹ
năng quan trọng sau đó chúng sẽ sử dụng những kỹ năng một cách độc lập – phát
triển
chức

năng
tâm
thần
cao
hơn.
Vận dụng thuyết văn hóa – xã hội của Vygotsky vào giáo dục: Lý thuyết
phát triển văn hóa – xã hội của Vygosky chú trọng đến việc giáo dục con người,
đặc biệt là giáo dục trẻ em, trẻ có thể học những kỹ năng, những kinh nghiệm
trong xã hội thông qua bắt chước hay sự dạy dỗ.
– Trường hợp trẻ học tập bằng cách bắt chước: Ví dụ: đứa trẻ nhìn thấy người
cha mỗi lần nghe điện thoại thì thường dùng một vật nào đó tương tự chiếc điện
thoại để điều khiển TV, dần dần vì sự tò mò ham học hỏi của trẻ con, một hôm
nó thấy chiếc điện thoại thì liền cầm lên đặt vào tai, kêu “hê lô, hê lô” và sau đó
dùng chiếc điện thoại đưa lại gần TV để điều khiển.
Chính nhờ sự tương tác với xã hội làm cho trẻ nhận thức ngày càng cụ thể hơn,
phong phú hơn về thế giới xung quanh, thông qua đó trẻ cũng học tập được
những kinh nghiệm từ xã hội, làm tiền đề cho sự phát triển về sau của chúng.
– Trường hợp trẻ học tập thông qua dạy dỗ: Ví dụ: một đứa trẻ lớp 1 gặp phải
một bài toán khó, bản thân chúng sẽ không dễ dàng gì để giải được bài toán đó
nhưng nếu có sự hướng dẫn của người thầy bằng cách phân tích đề bài, chú ý
những con số tính toán và nhớ lại phép tính cơ bản… thì chắc hẳn bài toán đó sẽ
trở nên nhẹ nhàng đối với trẻ.
Giáo dục tác động vào vùng phát triển gần nhất để kéo đứa trẻ đi từ vùng
phát triển hiện tại lên vùng phát triển gần nhất. Quan điểm cốt lõi trong giáo dục
hiện đại là phải lấy trẻ làm trung tâm. Có nghĩa là giáo dục hướng đến trẻ, vì trẻ
và do trẻ”. Bởi vậy, giáo dục là phải đi trước sự phát triển của đứa trẻ, để kéo
theo sự phát triển của đứa trẻ.
vấn đề mà các em đối mặt rơi vào “vùng phát triển gần”. Do đó, giải
quyết vấn đề sẽ giúp các em dịch chuyển trình độ hiện tại lên “vùng phát triển
4

gần”, vậy là dạy học đã tạo ra sự phát triển. Đây là mặt tích cực thứ nhất của
“dạy học vùng phát triển gần”.
Mặt tích cực thứ hai xuất phát từ cách mà chúng ta “bắc giàn” cho sự
phát triển. Bắc giàn, sẽ là cách mà chúng ta hướng dẫn học sinh thực hiện công
việc một cách nghệ thuật nhất có thể trên chính trình độ của các em. Nếu không
khéo, sự hỗ trợ sẽ biến học sinh thành những con người thụ động, cái mà John
Dewey coi là cực kì tai hại. Hỗ trợ cho các em giải quyết vấn đề nhưng đồng
thời cũng phải cho các em học được cách mà chúng ta giải quyết vấn đề. Nhờ đó
mà sau này có thể tự học, tự học suốt đời trong xu thế xã hội hóa giáo dục.
Harry Daniels dẫn lời Vygotsky trong tác phẩm Vygotsky 1978:
“Giả sử rằng tôi điều tra hai đứa trẻ ở độ tuổi đi học ở trường, cả hai đều mười
hai tuổi về mặt thời gian và tám tuổi về mặt phát triển trí tuệ học đường. Tôi có
thể nói rằng chúng có cùng tuổi trí tuệ hay không? Tất nhiên. Điều này nghĩa là
sao? Điều này có nghĩa là họ có thể độc lập giải quyết các công việc đến mức độ
khó đã được chuẩn hóa cho chương trình học ở mức độ lớp tám. Nếu tôi dừng
lại tại điểm này, mọi người có thể tưởng tượng rằng kết quả của quá trình phát
triển và quá trình học ở trường là như nhau, bởi vì nó dựa trên sự hiểu biết của
các em. Bây giờ hãy hình dung rằng tôi không dừng các nghiên cứu của mình tại
điểm này, mà chỉ mới thực sự bắt đầu Cho rằng tôi đã chỉ một số con đường để
các em giải quyết một công việc…mà bọn trẻ giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ
của tôi. Trong những điều kiện này, hóa ra đứa trẻ đầu tiên có thể giải quyết
công việc đến trình độ tuổi trí tuệ là mười. Đứa trẻ thứ hai chỉ đến trình độ tuổi
trí tuệ là 9. Vậy những đứa trẻ này có trí tuệ giống nhau hay không? Khi nó đã
thể hiện rằng năng lực của những đứa trẻ với trình độ phát triển trí tuệ như nhau
học tập dưới sự hướng dẫn của thầy giáo thay đổi đến một trình độ cao hơn, rõ
ràng là trí tuệ những đứa trẻ không như nhau và những khóa học tiếp theo của
chúng rõ ràng là sẽ khác nhau. Sự khác nhau đó là giữa mười hai và tám, giữa
chín và tám, là cái mà chúng ta gọi là vùng phát triển gần.”

Việc giải quyết một vấn đề nào đó liên quan chặt chẽ đến trình độ của học
sinh. Với trình độ phát triển hiện tại, trẻ có thể tự mình hoàn tất công việc tương
ứng với tuổi trí tuệ của chúng. Nhưng nếu công việc khó hơn một chút thì chúng
thường không thể hoàn tất trên khả năng của chính bản thân mà cần có sự hỗ trợ
của người có nhiều kinh nghiệm hơn, thường là người lớn mà ở trường học
chính là các thầy cô giáo. Ở một mức độ nào đó, khi trẻ tự hoàn tất một công
việc nào đấy thì coi như

5

sự phát triển liên quan đến các kĩ năng đáp ứng cho công việc đã kết thúc
chu trình của nó để bước sang một chu trình mới ở một trình độ cao hơn gần đó.
Chúng ta dạy là tổ chức cho trẻ làm việc trong vùng này để tạo cơ hội cho nó
hoàn tất chu trình một cách tương tự như trước đó. Ở đây mọi chuyện đã khác,
trẻ chưa có đầy đủ những kĩ năng, hiểu biết cần thiết để hoàn tất công việc và
cần sự giúp đỡ của người lớn hoặc bạn bè có nhiều kinh nghiệm hơn về vấn đề
đang nghiên cứu. Harry Daniels và Hammond Jennifer dẫn ra khái niệm vùng
phát triển gần ở trang 86 trong tác phẩm Vygotsky 1978 như sau:
“vùng phát triển gần là khoảng cách giữa trình độ phát triển hiện tại của
người học được xác định qua việc giải quyết vấn đề một cách độc lập và trình độ
phát triển tiềm tàng được xác định thông qua sự hướng dẫn của người lớn hay
cộng tác với các thành viên cùng trang lứa có khả năng hơn.” Khái niệm vùng
phát triển gần mà Vygotsky đưa ra đã mở ra một hướng dạy học mới có nhiều
triển vọng, dạy học có nhiều sự hỗ trợ và sự hỗ trợ đó nhằm giúp các em tiếp thu
kiến thức trên chính khả năng của mình
III. Dạy học vùng phát triển gần
Khái niệm vùng phát triển gần lôi cuốn nhiều nhà sư phạm trong vài thập
kỉ qua bởi lẽ không có thầy cô giáo nào là không muốn học sinh mình phát triển
không ngừng về tư duy, kiến thức, kĩ năng kĩ xảo một cách thuận lợi nhất có thể

v.v…và chính vùng phát triển gần đã ít nhất cho họ thấy những gì cần phải làm
hơn là những mục tiêu giáo dục xa xôi. Tất nhiên, chúng tôi hoàn toàn không có
ý định phê phán mục tiêu giáo dục vì nó ở một phương diện khác. Mục tiêu giáo
dục thường gắn liền với việc hoạch định chiến lược giáo dục ở mức độ vĩ mô,
cái khá trừu tượng nằm trong mỗi bài học, khác hoàn toàn với vùng phát triển
gần. Một triển vọng tươi sáng được mong chờ ở đây vì mọi thứ đã quá rõ ràng,
“chỉ có việc giảng dạy nào hơi đi trước sự phát triển mới là việc giảng dạy tốt”.
Đến đây, những ai mong muốn vận dụng nó sẽ phải giải thuyết thêm một số vấn
đề, mà theo chúng tôi là không đơn giản tí nào.
Dạy học vùng phát triển gần có phải là một phương pháp?
Xác định hai trình độ phát triển của học sinh, trình độ phát triển hiện tại
và vùng phát triển gần như thế nào?
Tổ chức cho học sinh làm việc trong vùng phát triển gần bằng cách nào?
Phương pháp nghĩa là lề lối và cách thức phải theo để tiến hành công việc với
kết quả tốt nhất có thể. Trong dạy học, phương pháp dạy học là cách thức hoạt
động của giáo viên trong việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động học tập nhằm giúp
học sinh chủ động đạt các mục tiêu dạy học.
6

Vygotsky đã đưa ra khái niệm vùng phát triển gần, nhưng bản thân ông
chưa bao giờ đề cập cách thức tiến hành dạy học trong phạm vi vùng phát triển
gần của học sinh nhằm giúp chúng chủ động lĩnh hội kiến thức như thế nào. Sau
này, một số nhà tâm lí giáo dục học như Mercer, Bruner, Wells … đã cố gắng
tìm cách thức tiến hành dạy học trong vùng phát triển gần và thực tế là đã có
nhưng đó là một cách tiến hành khá đặc biệt, cũng thu hút sự quan tâm đông đảo
của các nhà sư phạm trên thế giới. Có rất nhiều công trình nghiên cứu về dạy
học vùng phát triển gần đã được áp dụng cho dạy toán, tiếng Anh như một ngôn
ngữ thứ hai ở Australia ESL (English as a Second Language), lịch sử nhưng
chưa có học giả nào đề cập đến nó như là một phương pháp. Có lẽ là vẫn còn

nhiều tranh cãi xung quanh việc hiểu thế nào về khái niệm vùng phát triển gần
của Vygotsky và những khái niệm mới được Mercer, Bruner, Wells… nghiên
cứu; trong khi nói đến phương pháp dạy học thì một yếu tố rất quan trọng đó là
nền tảng cơ sở lí thuyết của nó phải thống nhất
lớp học có rất nhiều học sinh dù cùng tuổi trí tuệ nhưng vùng phát triển gần của
chúng khác nhau một cách đa dạng. Nếu dừng lại ở đây, chúng ta không có dạy
học ở vùng phát triển gần vì ít nhất việc xác định trình độ hiện tại và vùng phát
triển gần của trẻ đặt nền móng vững chắc cho những gì chúng ta làm ở các bước
tiếp theo.
IV. Diều kiện dạy học hiện nay
đua nhau nhồi nhét học thuộc lòng theo sách vở để có điểm cao mà sách chưa
chuẩn, năm nào thi cử cũng gian lận, đề thi sai,
Trong những thập kỷ qua, nền giáo dục Việt Nam có những bước phát triển, có
những thành tựu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực cho công cuộc xây dựng, bảo vệ và đổi mới đất nước. Nhưng đồng
thời nền giáo dục đang ẩn chứa rất nhiều yếu kém, bất cập:
– Giáo dục-đào tạo còn nhiều hạn chế, yếu kém, bất cập chậm được khắc phục;
chất lượng giáo dục còn thấp, quan tâm đến phát triển số lượng nhiều hơn chất
lượng; so với yêu cầu phát triển của đất nước còn nhiều nội dung chưa đạt; chưa
thực sự là quốc sách hàng đầu.
– Nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục còn lạc hậu, chậm đổi mới,
chậm hiện đại hóa, chưa gắn chặt với đời sống xã hội và lao động nghề nghiệp;
chưa phát huy tính sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên.
– Chất lượng giáo dục có mặt bị buông lỏng, giảm sút, nhất là giáo dục đạo đức,
lối sống; giáo dục mới quan tâm nhiều đến dạy “chữ”, còn dạy “người” và dạy
7

“nghề” vẫn yếu kém; yếu về giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống, lịch sử dân
tộc, tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành, kỹ năng sống…

– Hệ thống giáo dục quốc dân không hợp lý, thiếu đồng bộ, chưa liên thông, mất
cân đối.
– Quản lý nhà nước trong giáo dục còn nhiều yếu kém, bất cập, chậm đổi mới, là
nguyên nhân chủ yếu của nhiều nguyên nhân khác; cơ chế quản lý giáo dục
chậm đổi mới, còn nhiều lúng túng, nhận thức rất khác nhau, nhất là trong điều
kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; chưa theo kịp sự đổi mới trên các
lĩnh vực khác của đất nước.
– Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên còn nhiều bất cập, đạo đức và
năng lực của một bộ phận còn thấp.
– Chưa nhận thức đầy đủ, đúng đắn về công tác xã hội hóa giáo dục; định hướng
liên kết với nước ngoài trong phát triển giáo dục còn nhiều lúng túng, chưa xác
định rõ phương châm.
– Tư duy giáo dục chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu đổi mới-phát triển đất
nước trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; khoa học
giáo dục chưa được quan tâm đúng mức, chất lượng nghiên cứu khoa học giáo
dục còn nhiều bất cập.
– Các cơ quan chức năng chậm cụ thể hóa những quan điểm của Đảng thành cơ
chế, chính sách của Nhà nước; thiếu nhạy bén trong công tác tham mưu, thiếu
những quyết sách đồng bộ và hợp lý ở tầm vĩ mô (có khi chính sách được ban
hành rồi nhưng chỉ đạo tổ chức thực hiện không đến nơi đến chốn, kém hiệu
quả); một số chính sách về giáo dục còn chủ quan, duy ý chí, xa thực tế, thiếu sự
đồng thuận của xã hội.
Những vấn đề, những yếu kém và bất cập nêu trên của giáo dục không thể giải
quyết khắc phục được căn bản chỉ bằng các giải pháp cục bộ, đơn lẻ, bề mặt nhất
thời, thiếu chiến lược và tầm nhìn dài hạn, thiếu tính đồng bộ và hệ thống, chưa
đạt tới chiều sâu bản chất của vấn đề. Để giải quyết được căn bản những vấn đề
đặt ra, những người lãnh đạo – quản lý, những nhà khoa học, những người làm
giáo dục phải có cách nhìn toàn diện, đầy đủ, khách quan, như các văn kiện của
Đảng đã nêu, sâu hơn, bản chất hơn những gì nêu trên báo chí và những báo cáo
tổng kết thành tích.

V. Nguyên nhân .
1. Về phía người dạy
8

Mặc dù chất lượng và số lượng của lực lượng đội ngũ giảng viên ngày một nâng
cao nhưng phương pháp giảng dạy vẫn chủ yếu mang tính thuyết giảng, làm
người học tiếp thu một cách thụ động, nội dung giảng dạy mang năng lý thuyết,
thiếu cập nhật thực tiễn dẫn tới xơ cứng, giáo điều, tính ứng dụng thấp. Mặt
khác, việc sử dụng các phương tiện phục vụ cho giảng dạy chưa nhiều do vậy
mà không thể truyền tải hết lượng thông tin cần cung cấp cho người học, số thời
gian của giảng viên dành cho lên lớp tại các trường quá lớn, cho nên hạn chế
thời gian nghiên cứu khoa học và nghiên cứu thực tế. Đời sống của ngưới Thầy
còn nhiều khó khăn : Hiện nay giáo viên đang được hưởng mức lương thuộc
nhóm cao, nhưng thực tế xã hội ta hiện nay không sống bằng lương, các ngành
khác lương thấp nhưng cuộc sống thoải mái hơn nhiều. Đây là vấn đề cần phải
xem lại chính sách lương bổng của chúng ta đối với thầy cô giáo. Nếu chúng ta
thử tính một gia đình nhà giáo, hai người dạy học, có hai con đúng tiêu chuẩn,
nếu họ là nhà giáo chân chính, chuyên tâm dạy học thì với đồng lương của họ
nuôi con đi học tới lớp mấy ?
2. Về phía người học
Chất lượng đầu vào của nhiều cơ sở đào tạo đại học quá thấp, thấp đến mức
không thể thấp hơn được nữa, chủ yếu tập trung vào các trường xét tuyển, tính
chủ động sáng tạo trong học tập và nghiên cứu của sinh viên nhìn chung chưa
cao, thiếu tư duy khoa học, đại đa số học thụ động, học theo phong trào, học cho
qua “học theo hội chứng bằng cấp”, do vậy khi tốt nghiệp chưa đủ kiến thức để
đáp ứng được yêu cầu bức xúc của thực tế và bị thực tiễn chối bỏ. Chỉ số chất
lượng đào tạo so với các nước trong khu vực đứng hạng 10 trên 12 nước.
3. Về chương trình đào tạo
Chương trình đào tạo chậm cải tiến đổi mới,,̀ thiếu tính cập nhật, lý thuyết chưa

gắn với thực tiễn, các môn học quá nhiều và cơ cấu thời lượng chưa hợp lý, dẫn
tới sinh viên Việt Nam học quá nhiều nhưng kiến thức lại chưa phù hợp với thực
tiễn.
4. Giáo dục còn quá yếu kém và lạc hậu, thiếu đồng bộ, thiếu đầu tư nâng cấp
Những tồn tại trên đã làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng giáo dục đào tạo đại
học mà nguyên nhân chính vẫn là tư duy của người dạy, người học và cơ chế
quản lý chưa phù hợp đã tạo những “Sản phẩm” chất lượng kém vừa thiếu kiến
thức, kỹ năng nghề nghiệp, phương pháp làm việc vừa kém về năng lực nhận
thức, tư duy và phương pháp nghiên cứu khoa học, xã hội không thừa nhận và
rồi “Sản phẩm” của giáo dục đào tạo đại học không có chỗ đứng trên thị trường,
người học xong đại học khó hoặc không tìm được việc làm.
9

-Nội dung chương trình và sách giáo khoa chưa phù hợp: Hiện nay đang từng
bước thực hiện thay sách giáo khoa, đổi mới chương trình, có định hướng giáo
dục toàn diện cho học sinh, khắc phục những thiếu sót trước đây chủ yếu dạy
kiến thức, nặng về lý thuyết, chưa quan tâm đến giáo dục tình cảm và hành động
cho học sinh .
Ngành giáo dục chậm đổi mới để theo kịp nhu cầu đất nước : Sự phát triển kinh
tế của đất nước tạo điều kiện cho truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam
phát triển, hiện nay chúng ta có một xã hội học tập, người người đi học, gần 30
triệu học sinh các cấp là một con số khổng lồ, qua các kỳ thi đại học ta thấy có
sự chen chúc nhau quá mức, các trung tâm luyện thi, các thầy giáo dạy thêm,
học thêm, học sinh cố học để tìm kiếm một trường học thích ứng. Khi một đất
nước có tốc độ phát triển khá cao và đều đặn như hiện nay, các nhà quản lý giáo
dục phải có biện pháp đón đường, dự kiến những nhu cầu của ngành, của nhân
dân, của học sinh để có những biện pháp thích hợp.
– Cơ chế quản lý đối với ngành giáo dục chưa phù hợp : Hiện nay ngành giáo
dục các địa phương chịu sự tác động hàng ngang của địa phương nhiều hơn là

chịu tác động hàng dọc của Bộ giáo dục – đào tạo. Các trường phổ thông dạy
học, thi cử đúng như quy chế của Bộ giáo dục – đào tạo, nhưng nếu học sinh thi
rớt nhiều, lưu ban nhiều thì địa phương sẽ có ý kiến, thậm chí có những ý kiến
chỉ đạo, “bệnh thành tích”có cơ hội để phát triển trong cơ chế quản lý giáo dục
hiện nay .
VI. Biện pháp thay đổi

coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học.
giáo viên cần hiểu rõ học sinh của mình,nắm bắt được điểm mạnh,những
tiềm năng của người học để tập giáo dục và định hướng đúng
giáo viên cần hinh dung trước những điều mà người học có khả năng đạt
được để có phương pháp giáo dục hợp lý
người thầy luôn là người khơi dậy ở học sinh nhu cầu tìm tòi,ham học
nội dung phải thiết thuwch ,phù hợp với người học .không lan man
giáo viên đóng vai trò định hướng vô cùng quan trong trong việc phát
triển tâm lý của người học
người học cần chủ động trong việc tìn tòi học hỏi
cần tập trung vào thế mạnh ,tiềm năng sẵn có của cá nhân hơn là tập thể

10

Trước tiên, ta chứng minh và khẳng định học là một hoạt động giải trí nhận thức. Vậy thế nào là hoạtđộng nhận thức ? Nhận thức là sự phản ánh quốc tế khách quan vào não người – đó là sự phản ánh tâm ý của con người khởi đầu từ cảm xúc đến tư duy, tưởngtượng. Sự học tập của học viên cũng là quá trình như vậy. Đó là sự phản ánh đitrước, có đặc thù tái tạo mà mức độ cao nhất là sự phát minh sáng tạo. Sự phản ánh đó bịkhúc xạ qua lăng kính chủ quan của mỗi người ( như qua kinh nghiệm tay nghề, nhu yếu, hứng thú … ), và đó là sự phản ánh tích cực của mỗi chủ thể. – Quá trình học tập của học viên cũng diễn ra theo công thức của V.I.Leenin vềquá trình nhận thức : “ Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duytrừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan ”. * Tuy nhiên, trong QTDH, nhận thức của họcsinh còn biểu lộ tính độc lạ, đơn cử như sau : – QT nhận thức của học sinhkhông phải là quá trình tìm ra cái mới cho quả đât mà hầu hết là sự tái tạonhững tri thức của loài người đã tạo ra. – QT nhận thức của học viên không diễn ra theo con đường mò mẫm, thử và sainhư quá trình nhận thức nói chung của loài người, mà diễn ra theo con đường đãđược mày mò, được những nhà kiến thiết xây dựng chương trình, nội dung dạy học giacông sư phạm. Vì vậy, trong một thời hạn nhất định, học viên hoàn toàn có thể lĩnh hộikhối lượng tri thức rất lớn một cách thuận tiện. – QT học tập của học viên phải triển khai theo những khâu của QTDH. – QT nhận thức của học viên trong QTDH diễn ra dưới vai trò chủ yếu củangười giáo viên cùng với những điều kiện kèm theo sư phạm nhất định. Kết luận : Như vậybản chất của QTDH là hoạt động giải trí nhận thức độc lạ của học viên. II. Thuyết Của Vygotsky Trong Hoạt Động HọcLý thuyết về văn hoá xã hội do Lev Vygotsky khởi xướng nhấn mạnh vấn đề đếntầm quan trọng của yếu tố xã hội và văn hoá có ảnh hưởng tác động đến sự tăng trưởng nhậnthức của trẻ nhỏ. Hai yếu tố này ảnh hưởng tác động trải qua sự tương tác của trẻ với đồvật và với người lớn hay nói cách khác đó là sự tương tác xã hội – đóng vai tròcơ bản trong sự tăng trưởng nhận thức. Vygotsky khẳng định chắc chắn : “ Tất cả những công dụng trong tăng trưởng văn hóa truyền thống củatrẻ Open hai lần : tiên phong, trên bình diện xã hội và sau đó ở Lever cá thể ; tiên phong, giữa những con người ( liên tâm ý ) và sau đó bên trong đứa trẻ ( nộitâm lý ) ”. Giống như người cùng thời với ông – Piaget – Vygotsky tin rằng trẻ nhỏ lànhững người tích cực xây nên kỹ năng và kiến thức và những kỹ năng và kiến thức của chính chúng. Ôngtin rằng sự tăng trưởng của trẻ nhỏ là hiệu quả của sự tương tác giữa đứa trẻ và môitrường xã hội của nó. Thông qua hoạt động giải trí chơi, trẻ sẽ có được ý nghĩa trừu tượng về sự vật, phân biệt được vật này với vật khác và làm cho chúng nhận thức rất đầy đủ hơn vềthế giới xung quanh. Ví dụ : khi trẻ xưng hô là anh, em với búp bê có nghĩa là lúcnày đứa trẻ đã nhận thức được vai trò, trách nhiệm của mình trong mái ấm gia đình là nhưthế nào. Đứa trẻ hoàn toàn có thể dùng cái gối làm em bé, cái nắp làm cái tô, cây que là cáimuỗng – những vật phẩm đó có tính tượng trưng cho em bé thật và đồ nấu ăn thậtmà bé chưa thể sử dụng thành thục được. Hoạt động chơi không những giúp trẻ học được những kiến thức và kỹ năng, nhữngquy luật xã hội mà còn giúp trẻ tự kiểm soát và điều chỉnh bản thân mình. Ví như một đứa trẻđang đứng tại vạch xuất phát trong cuộc thi lượn lờ bơi lội cùng với những trẻ khác, đứatrẻ nào cũng muốn nhảy xuống nước bơi ngay nhưng pháp luật xã hội giúp trẻphải chờ đón có tín hiệu xuất phát mới được bơi. Ảnh hưởng của văn hóa truyền thống – xã hội đến sự tăng trưởng nhận thức : Vygotskycho rằng trẻ nhỏ sinh ra đã có những năng lượng cơ bản cho sự tăng trưởng trí tuệ, được bộc lộ trải qua sự quan tâm, nhận thức, trí nhớ … Trẻ em rất tò mò và chính vì sự tò mò ấy sẽ làm cho chúng tích cực tham giavào việc học hỏi để phát hiện và tăng trưởng thêm những vốn hiểu biết mới do vănhóa – xã hội đem lại. Trẻ sẽ được học tập những điều quan trọng nếu như trẻ có sự tương tác xãhội với một người có sự khôn khéo, có năng lượng tốt. Ví dụ : đứa trẻ hoàn toàn có thể khó khăntrong việc ghép hình nhưng sẽ thuận tiện so với chúng khi có một người ngồicạnh bên diễn đạt hoặc bộc lộ một số ít động tác cơ bản, ví dụ điển hình như việc tìmkiếm toàn bộ những góc, cạnh, cung ứng một vài miếng ghép nổi bật và khuyếnkhích khi trẻ ghép được một mảnh ghép, như vậy sẽ giúp cho trẻ học hỏi nhanhhơn và tạo cho trẻ cảm xúc tự do, thú vị hơn trong việc học. Vùng tăng trưởng gần ( ZPD – Zone of Proximal Development ) : đề cập đếnviệc học tập và thực thi độc lập một trách nhiệm trải qua tương tác của trẻ vớibạn bè hoặc những người xung quanh. Ví dụ : đứa con không hề biết cách thắc dây giày và đó là sự khó khăn vất vả đốivới nó nếu không có sự hướng dẫn, chỉ dạy của người cha hay người xungquanh, từ từ với những kiến thức và kỹ năng trẻ học được, trẻ hoàn toàn có thể độc lập làm nhữngđộng tác ấy mà không cần đến sự giúp sức của người khác. Ví dụ khác : lúc đầu trẻ sẽ không biết cách chơi nhảy dây, bắn bi, ô ănquan … ra làm sao nhưng qua sự tương tác, học hỏi bạn hữu xung quanh đã giúp trẻbiết được cách chơi game show đó như thế nào. Không những vậy, với những kiếnthức về game show đó trẻ hoàn toàn có thể tự tổ chức triển khai và làm đa dạng chủng loại thêm game show chomình. Vygotsky thấy khu tăng trưởng gần như là khu vực nhạy cảm nhất đối vớisự học tập trải qua học hỏi của đứa trẻ, được cho phép đứa trẻ tăng trưởng những kỹnăng quan trọng sau đó chúng sẽ sử dụng những kỹ năng và kiến thức một cách độc lập – pháttriểnchứcnăngtâmthầncaohơn. Vận dụng thuyết văn hóa truyền thống – xã hội của Vygotsky vào giáo dục : Lý thuyếtphát triển văn hóa truyền thống – xã hội của Vygosky chú trọng đến việc giáo dục con người, đặc biệt quan trọng là giáo dục trẻ nhỏ, trẻ hoàn toàn có thể học những kỹ năng và kiến thức, những kinh nghiệmtrong xã hội trải qua bắt chước hay sự dạy dỗ. – Trường hợp trẻ học tập bằng cách bắt chước : Ví dụ : đứa trẻ nhìn thấy ngườicha mỗi lần nghe điện thoại thông minh thì thường dùng một vật nào đó tương tự như chiếc điệnthoại để điều khiển và tinh chỉnh TV, từ từ vì sự tò mò ham học hỏi của trẻ con, một hômnó thấy chiếc điện thoại cảm ứng thì liền cầm lên đặt vào tai, kêu “ hê lô, hê lô ” và sau đódùng chiếc điện thoại cảm ứng đưa lại gần TV để tinh chỉnh và điều khiển. Chính nhờ sự tương tác với xã hội làm cho trẻ nhận thức ngày càng đơn cử hơn, phong phú và đa dạng hơn về quốc tế xung quanh, trải qua đó trẻ cũng học tập đượcnhững kinh nghiệm tay nghề từ xã hội, làm tiền đề cho sự tăng trưởng về sau của chúng. – Trường hợp trẻ học tập trải qua dạy dỗ : Ví dụ : một đứa trẻ lớp 1 gặp phảimột bài toán khó, bản thân chúng sẽ không thuận tiện gì để giải được bài toán đónhưng nếu có sự hướng dẫn của người thầy bằng cách nghiên cứu và phân tích đề bài, chú ýnhững số lượng giám sát và nhớ lại phép tính cơ bản … thì chắc rằng bài toán đó sẽtrở nên nhẹ nhàng so với trẻ. Giáo dục đào tạo ảnh hưởng tác động vào vùng tăng trưởng gần nhất để kéo đứa trẻ đi từ vùngphát triển hiện tại lên vùng tăng trưởng gần nhất. Quan điểm cốt lõi trong giáo dụchiện đại là phải lấy trẻ làm TT. Có nghĩa là giáo dục hướng đến trẻ, vì trẻvà do trẻ ”. Bởi vậy, giáo dục là phải đi trước sự tăng trưởng của đứa trẻ, để kéotheo sự tăng trưởng của đứa trẻ. yếu tố mà những em đương đầu rơi vào “ vùng tăng trưởng gần ”. Do đó, giảiquyết yếu tố sẽ giúp những em di dời trình độ hiện tại lên “ vùng phát triểngần ”, vậy là dạy học đã tạo ra sự tăng trưởng. Đây là mặt tích cực thứ nhất của “ dạy học vùng tăng trưởng gần ”. Mặt tích cực thứ hai xuất phát từ cách mà tất cả chúng ta “ bắc giàn ” cho sựphát triển. Bắc giàn, sẽ là cách mà tất cả chúng ta hướng dẫn học viên thực thi côngviệc một cách thẩm mỹ và nghệ thuật nhất hoàn toàn có thể trên chính trình độ của những em. Nếu khôngkhéo, sự tương hỗ sẽ biến học viên thành những con người thụ động, cái mà JohnDewey coi là cực kỳ tai hại. Hỗ trợ cho những em xử lý yếu tố nhưng đồngthời cũng phải cho những em học được cách mà tất cả chúng ta xử lý yếu tố. Nhờ đómà sau này hoàn toàn có thể tự học, tự học suốt đời trong xu thế xã hội hóa giáo dục. Harry Daniels dẫn lời Vygotsky trong tác phẩm Vygotsky 1978 : “ Giả sử rằng tôi tìm hiểu hai đứa trẻ ở độ tuổi đi học ở trường, cả hai đều mườihai tuổi về mặt thời hạn và tám tuổi về mặt tăng trưởng trí tuệ học đường. Tôi cóthể nói rằng chúng có cùng tuổi trí tuệ hay không ? Tất nhiên. Điều này nghĩa làsao ? Điều này có nghĩa là họ hoàn toàn có thể độc lập xử lý những việc làm đến mức độkhó đã được chuẩn hóa cho chương trình học ở mức độ lớp tám. Nếu tôi dừnglại tại điểm này, mọi người hoàn toàn có thể tưởng tượng rằng tác dụng của quá trình pháttriển và quá trình học ở trường là như nhau, do tại nó dựa trên sự hiểu biết củacác em. Bây giờ hãy tưởng tượng rằng tôi không dừng những nghiên cứu và điều tra của mình tạiđiểm này, mà chỉ mới thực sự khởi đầu Cho rằng tôi đã chỉ 1 số ít con đường đểcác em xử lý một việc làm … mà bọn trẻ xử lý yếu tố với sự giúp đỡcủa tôi. Trong những điều kiện kèm theo này, hóa ra đứa trẻ tiên phong hoàn toàn có thể giải quyếtcông việc đến trình độ tuổi trí tuệ là mười. Đứa trẻ thứ hai chỉ đến trình độ tuổitrí tuệ là 9. Vậy những đứa trẻ này có trí tuệ giống nhau hay không ? Khi nó đãthể hiện rằng năng lượng của những đứa trẻ với trình độ tăng trưởng trí tuệ như nhauhọc tập dưới sự hướng dẫn của thầy giáo đổi khác đến một trình độ cao hơn, rõràng là trí tuệ những đứa trẻ không như nhau và những khóa học tiếp theo củachúng rõ ràng là sẽ khác nhau. Sự khác nhau đó là giữa mười hai và tám, giữachín và tám, là cái mà tất cả chúng ta gọi là vùng tăng trưởng gần. ” Việc xử lý một yếu tố nào đó tương quan ngặt nghèo đến trình độ của họcsinh. Với trình độ tăng trưởng hiện tại, trẻ hoàn toàn có thể tự mình hoàn tất việc làm tươngứng với tuổi trí tuệ của chúng. Nhưng nếu việc làm khó hơn một chút ít thì chúngthường không hề hoàn tất trên năng lực của chính bản thân mà cần có sự hỗ trợcủa người có nhiều kinh nghiệm tay nghề hơn, thường là người lớn mà ở trường họcchính là những thầy cô giáo. Ở một mức độ nào đó, khi trẻ tự hoàn tất một côngviệc nào đấy thì coi nhưsự tăng trưởng tương quan đến những kĩ năng phân phối cho việc làm đã kết thúcchu trình của nó để bước sang một quy trình mới ở một trình độ cao hơn gần đó. Chúng ta dạy là tổ chức triển khai cho trẻ thao tác trong vùng này để tạo thời cơ cho nóhoàn tất quy trình một cách tựa như như trước đó. Ở đây mọi chuyện đã khác, trẻ chưa có rất đầy đủ những kĩ năng, hiểu biết thiết yếu để hoàn tất việc làm vàcần sự trợ giúp của người lớn hoặc bạn hữu có nhiều kinh nghiệm tay nghề hơn về vấn đềđang nghiên cứu và điều tra. Harry Daniels và Hammond Jennifer dẫn ra khái niệm vùngphát triển gần ở trang 86 trong tác phẩm Vygotsky 1978 như sau : “ vùng tăng trưởng gần là khoảng cách giữa trình độ tăng trưởng hiện tại củangười học được xác lập qua việc xử lý yếu tố một cách độc lập và trình độphát triển tiềm tàng được xác lập trải qua sự hướng dẫn của người lớn haycộng tác với những thành viên cùng trang lứa có năng lực hơn. ” Khái niệm vùngphát triển gần mà Vygotsky đưa ra đã mở ra một hướng dạy học mới có nhiềutriển vọng, dạy học có nhiều sự tương hỗ và sự tương hỗ đó nhằm mục đích giúp những em tiếp thukiến thức trên chính năng lực của mìnhIII. Dạy học vùng tăng trưởng gầnKhái niệm vùng tăng trưởng gần hấp dẫn nhiều nhà sư phạm trong vài thậpkỉ qua bởi lẽ không có thầy cô giáo nào là không muốn học viên mình phát triểnkhông ngừng về tư duy, kỹ năng và kiến thức, kĩ năng kĩ xảo một cách thuận tiện nhất có thểv. v … và chính vùng tăng trưởng gần đã tối thiểu cho họ thấy những gì cần phải làmhơn là những tiềm năng giáo dục xa xôi. Tất nhiên, chúng tôi trọn vẹn không cóý định phê phán tiềm năng giáo dục vì nó ở một phương diện khác. Mục tiêu giáodục thường gắn liền với việc hoạch định kế hoạch giáo dục ở mức độ vĩ mô, cái khá trừu tượng nằm trong mỗi bài học kinh nghiệm, khác trọn vẹn với vùng phát triểngần. Một triển vọng tươi tắn được mong đợi ở đây vì mọi thứ đã quá rõ ràng, “ chỉ có việc giảng dạy nào hơi đi trước sự tăng trưởng mới là việc giảng dạy tốt ”. Đến đây, những ai mong ước vận dụng nó sẽ phải giải thuyết thêm một số ít vấnđề, mà theo chúng tôi là không đơn thuần tí nào. Dạy học vùng tăng trưởng gần có phải là một giải pháp ? Xác định hai trình độ tăng trưởng của học viên, trình độ tăng trưởng hiện tạivà vùng tăng trưởng gần như thế nào ? Tổ chức cho học viên thao tác trong vùng tăng trưởng gần bằng cách nào ? Phương pháp nghĩa là lề lối và phương pháp phải theo để thực thi việc làm vớikết quả tốt nhất hoàn toàn có thể. Trong dạy học, giải pháp dạy học là phương pháp hoạtđộng của giáo viên trong việc tổ chức triển khai, chỉ huy những hoạt động giải trí học tập nhằm mục đích giúphọc sinh dữ thế chủ động đạt những tiềm năng dạy học. Vygotsky đã đưa ra khái niệm vùng tăng trưởng gần, nhưng bản thân ôngchưa khi nào đề cập phương pháp thực thi dạy học trong khoanh vùng phạm vi vùng phát triểngần của học viên nhằm mục đích giúp chúng dữ thế chủ động lĩnh hội kiến thức và kỹ năng như thế nào. Saunày, 1 số ít nhà tâm lí giáo dục học như Mercer, Bruner, Wells … đã cố gắngtìm phương pháp thực thi dạy học trong vùng tăng trưởng gần và thực tiễn là đã cónhưng đó là một cách thực thi khá đặc biệt quan trọng, cũng lôi cuốn sự chăm sóc đông đảocủa những nhà sư phạm trên quốc tế. Có rất nhiều khu công trình điều tra và nghiên cứu về dạyhọc vùng tăng trưởng gần đã được vận dụng cho dạy toán, tiếng Anh như một ngônngữ thứ hai ở Australia ESL ( English as a Second Language ), lịch sử vẻ vang nhưngchưa có học giả nào đề cập đến nó như thể một chiêu thức. Có lẽ là vẫn cònnhiều tranh cãi xung quanh việc hiểu thế nào về khái niệm vùng tăng trưởng gầncủa Vygotsky và những khái niệm mới được Mercer, Bruner, Wells … nghiêncứu ; trong khi nói đến chiêu thức dạy học thì một yếu tố rất quan trọng đó lànền tảng cơ sở lí thuyết của nó phải thống nhấtlớp học có rất nhiều học viên dù cùng tuổi trí tuệ nhưng vùng tăng trưởng gần củachúng khác nhau một cách phong phú. Nếu dừng lại ở đây, tất cả chúng ta không có dạyhọc ở vùng tăng trưởng gần vì tối thiểu việc xác lập trình độ hiện tại và vùng pháttriển gần của trẻ đặt nền móng vững chãi cho những gì tất cả chúng ta làm ở những bướctiếp theo. IV. Diều kiện dạy học hiện nayđua nhau nhồi nhét học thuộc lòng theo sách vở để có điểm trên cao mà sách chưachuẩn, năm nào thi tuyển cũng gian lận, đề thi sai, Trong những thập kỷ qua, nền giáo dục Nước Ta có những bước tăng trưởng, cónhững thành tựu đáng ghi nhận, góp thêm phần quan trọng vào nâng cao dân trí, đàotạo nhân lực cho công cuộc kiến thiết xây dựng, bảo vệ và thay đổi quốc gia. Nhưng đồngthời nền giáo dục đang chứa đựng rất nhiều yếu kém, chưa ổn : – Giáo dục-đào tạo còn nhiều hạn chế, yếu kém, chưa ổn chậm được khắc phục ; chất lượng giáo dục còn thấp, chăm sóc đến tăng trưởng số lượng nhiều hơn chấtlượng ; so với nhu yếu tăng trưởng của quốc gia còn nhiều nội dung chưa đạt ; chưathực sự là quốc sách số 1. – Nội dung, chương trình, chiêu thức giáo dục còn lỗi thời, chậm thay đổi, chậm hiện đại hóa, chưa gắn chặt với đời sống xã hội và lao động nghề nghiệp ; chưa phát huy tính phát minh sáng tạo, năng lượng thực hành thực tế của học viên, sinh viên. – Chất lượng giáo dục xuất hiện bị buông lỏng, giảm sút, nhất là giáo dục đạo đức, lối sống ; giáo dục mới chăm sóc nhiều đến dạy “ chữ ”, còn dạy “ người ” và dạy “ nghề ” vẫn yếu kém ; yếu về giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống, lịch sử dân tộc dântộc, tư duy phát minh sáng tạo, kiến thức và kỹ năng thực hành thực tế, kỹ năng và kiến thức sống … – Hệ thống giáo dục quốc dân không hài hòa và hợp lý, thiếu đồng nhất, chưa liên thông, mấtcân đối. – Quản lý nhà nước trong giáo dục còn nhiều yếu kém, chưa ổn, chậm thay đổi, lànguyên nhân đa phần của nhiều nguyên do khác ; chính sách quản trị giáo dụcchậm thay đổi, còn nhiều lúng túng, nhận thức rất khác nhau, nhất là trong điềukiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ; chưa theo kịp sự thay đổi trên cáclĩnh vực khác của quốc gia. – Đội ngũ cán bộ quản trị giáo dục và giáo viên còn nhiều chưa ổn, đạo đức vànăng lực của một bộ phận còn thấp. – Chưa nhận thức không thiếu, đúng đắn về công tác làm việc xã hội hóa giáo dục ; định hướngliên kết với quốc tế trong tăng trưởng giáo dục còn nhiều lúng túng, chưa xácđịnh rõ mục tiêu. – Tư duy giáo dục chậm thay đổi, chưa theo kịp nhu yếu đổi mới-phát triển đấtnước trong toàn cảnh tăng trưởng kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ; khoa họcgiáo dục chưa được chăm sóc đúng mức, chất lượng điều tra và nghiên cứu khoa học giáodục còn nhiều chưa ổn. – Các cơ quan chức năng chậm cụ thể hóa những quan điểm của Đảng thành cơchế, chủ trương của Nhà nước ; thiếu nhạy bén trong công tác làm việc tham mưu, thiếunhững quyết sách đồng điệu và hài hòa và hợp lý ở tầm vĩ mô ( có khi chủ trương được banhành rồi nhưng chỉ huy tổ chức triển khai triển khai không đến nơi đến chốn, kém hiệuquả ) ; một số ít chủ trương về giáo dục còn chủ quan, duy ý chí, xa thực tiễn, thiếu sựđồng thuận của xã hội. Những yếu tố, những yếu kém và chưa ổn nêu trên của giáo dục không hề giảiquyết khắc phục được cơ bản chỉ bằng những giải pháp cục bộ, đơn lẻ, mặt phẳng nhấtthời, thiếu kế hoạch và tầm nhìn dài hạn, thiếu tính đồng điệu và mạng lưới hệ thống, chưađạt tới chiều sâu thực chất của yếu tố. Để xử lý được cơ bản những vấn đềđặt ra, những người chỉ huy – quản trị, những nhà khoa học, những người làmgiáo dục phải có cách nhìn tổng lực, khá đầy đủ, khách quan, như những văn kiện củaĐảng đã nêu, sâu hơn, thực chất hơn những gì nêu trên báo chí truyền thông và những báo cáotổng kết thành tích. V. Nguyên nhân. 1. Về phía người dạyMặc dù chất lượng và số lượng của lực lượng đội ngũ giảng viên ngày một nângcao nhưng giải pháp giảng dạy vẫn hầu hết mang tính thuyết giảng, làmngười học tiếp thu một cách thụ động, nội dung giảng dạy mang năng kim chỉ nan, thiếu update thực tiễn dẫn tới xơ cứng, giáo điều, tính ứng dụng thấp. Mặtkhác, việc sử dụng những phương tiện đi lại Giao hàng cho giảng dạy chưa nhiều do vậymà không hề truyền tải hết lượng thông tin cần phân phối cho người học, số thờigian của giảng viên dành cho lên lớp tại những trường quá lớn, cho nên vì thế hạn chếthời gian nghiên cứu và điều tra khoa học và điều tra và nghiên cứu thực tiễn. Đời sống của ngưới Thầycòn nhiều khó khăn vất vả : Hiện nay giáo viên đang được hưởng mức lương thuộcnhóm cao, nhưng thực tiễn xã hội ta lúc bấy giờ không sống bằng lương, những ngànhkhác lương thấp nhưng đời sống tự do hơn nhiều. Đây là yếu tố cần phảixem lại chủ trương lương bổng của tất cả chúng ta so với thầy cô giáo. Nếu chúng tathử tính một mái ấm gia đình nhà giáo, hai người dạy học, có hai con đúng tiêu chuẩn, nếu họ là nhà giáo chân chính, chuyên tâm dạy học thì với đồng lương của họnuôi con đi học tới lớp mấy ? 2. Về phía người họcChất lượng nguồn vào của nhiều cơ sở đào tạo và giảng dạy ĐH quá thấp, thấp đến mứckhông thể thấp hơn được nữa, đa phần tập trung chuyên sâu vào những trường xét tuyển, tínhchủ động phát minh sáng tạo trong học tập và điều tra và nghiên cứu của sinh viên nhìn chung chưacao, thiếu tư duy khoa học, đại đa số học thụ động, học theo trào lưu, học choqua “ học theo hội chứng bằng cấp ”, do vậy khi tốt nghiệp chưa đủ kỹ năng và kiến thức đểđáp ứng được nhu yếu bức xúc của thực tiễn và bị thực tiễn chối bỏ. Chỉ số chấtlượng giảng dạy so với những nước trong khu vực đứng hạng 10 trên 12 nước. 3. Về chương trình đào tạoChương trình giảng dạy chậm nâng cấp cải tiến thay đổi, , ̀ thiếu tính update, kim chỉ nan chưagắn với thực tiễn, những môn học quá nhiều và cơ cấu tổ chức thời lượng chưa hài hòa và hợp lý, dẫntới sinh viên Nước Ta học quá nhiều nhưng kiến thức và kỹ năng lại chưa tương thích với thựctiễn. 4. Giáo dục đào tạo còn quá yếu kém và lỗi thời, thiếu đồng nhất, thiếu góp vốn đầu tư nâng cấpNhững sống sót trên đã làm tác động ảnh hưởng lớn đến chất lượng giáo dục huấn luyện và đào tạo đạihọc mà nguyên do chính vẫn là tư duy của người dạy, người học và cơ chếquản lý chưa tương thích đã tạo những “ Sản phẩm ” chất lượng kém vừa thiếu kiếnthức, kỹ năng và kiến thức nghề nghiệp, giải pháp thao tác vừa kém về năng lượng nhậnthức, tư duy và chiêu thức điều tra và nghiên cứu khoa học, xã hội không thừa nhận vàrồi “ Sản phẩm ” của giáo dục đào tạo và giảng dạy ĐH không có chỗ đứng trên thị trường, người học xong ĐH khó hoặc không tìm được việc làm. – Nội dung chương trình và sách giáo khoa chưa tương thích : Hiện nay đang từngbước triển khai thay sách giáo khoa, thay đổi chương trình, có khuynh hướng giáodục tổng lực cho học viên, khắc phục những thiếu sót trước kia đa phần dạykiến thức, nặng về triết lý, chưa chăm sóc đến giáo dục tình cảm và hành độngcho học viên. Ngành giáo dục chậm thay đổi để theo kịp nhu yếu quốc gia : Sự tăng trưởng kinhtế của quốc gia tạo điều kiện kèm theo cho truyền thống cuội nguồn hiếu học của dân tộc bản địa Việt Namphát triển, lúc bấy giờ tất cả chúng ta có một xã hội học tập, người người đi học, gần 30 triệu học viên những cấp là một số lượng khổng lồ, qua những kỳ thi ĐH ta thấy cósự sum sê nhau quá mức, những TT luyện thi, những thầy giáo dạy thêm, học thêm, học viên cố học để tìm kiếm một trường học thích ứng. Khi một đấtnước có vận tốc tăng trưởng khá cao và đều đặn như lúc bấy giờ, những nhà quản trị giáodục phải có giải pháp đón đường, dự kiến những nhu yếu của ngành, của nhândân, của học viên để có những giải pháp thích hợp. – Cơ chế quản trị so với ngành giáo dục chưa tương thích : Hiện nay ngành giáodục những địa phương chịu sự ảnh hưởng tác động hàng ngang của địa phương nhiều hơn làchịu tác động ảnh hưởng hàng dọc của Bộ giáo dục – giảng dạy. Các trường đại trà phổ thông dạyhọc, thi tuyển đúng như quy định của Bộ giáo dục – huấn luyện và đào tạo, nhưng nếu học viên thirớt nhiều, lưu ban nhiều thì địa phương sẽ có quan điểm, thậm chí còn có những ý kiếnchỉ đạo, “ bệnh thành tích ” có thời cơ để tăng trưởng trong chính sách quản trị giáo dụchiện nay. VI. Biện pháp thay đổicoi trọng tăng trưởng phẩm chất, năng lượng của người học. giáo viên cần hiểu rõ học viên của mình, chớp lấy được điểm mạnh, nhữngtiềm năng của người học để tập giáo dục và xu thế đúnggiáo viên cần hinh dung trước những điều mà người học có năng lực đạtđược để có chiêu thức giáo dục hợp lýngười thầy luôn là người khơi dậy ở học viên nhu yếu tìm tòi, ham họcnội dung phải thiết thuwch, tương thích với người học. không lan mangiáo viên đóng vai trò khuynh hướng vô cùng quan trong trong việc pháttriển tâm ý của người họcngười học cần dữ thế chủ động trong việc tìn tòi học hỏicần tập trung chuyên sâu vào thế mạnh, tiềm năng sẵn có của cá thể hơn là tập thể10

Rate this post
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments