Surimi – Wikipedia tiếng Việt

Surimi thành phẩm

Surimi (擂り身, nghĩa là “thịt xay” trong tiếng Nhật) là một loại thực phẩm truyền thống có nguồn gốc từ cá của các nước châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc. Cá nguyên liệu được tiến hành rửa, phi lê, xay nhỏ, băm nhuyễn và phối trộn các nguyên liệu phụ, định hình, xử lý nhiệt sẽ cho sản phẩm được gọi là surimi. (Các sản phẩm truyền thống như giò cá, chả cá của Việt Nam cũng là thịt xay nhưng không nên gọi tùy tiện là surimi.)

Surimi là thịt cá thờn bơn hạng sang được tách xương, rửa sạch, nghiền nhỏ, không có mùi vị và sắc tố đặc trưng, có độ kết dính vững chãi, là một chế phẩm bán thành phẩm, là một nền protein, được sử dụng thoáng rộng làm làm nhiều mẫu sản phẩm gốc thủy hải sản khác .

Tuỳ theo loại cá dùng làm surimi và dạng surimi mong muốn mà surimi có thành phần dinh dưỡng khác nhau. Theo Bảng thành phần dinh dưỡng trong thực phẩm (Food Nutrient Database 16-1) của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), surimi từ cá chứa khoảng 76% nước, 15% protein, 6,85% carbonhydrat, 0,9% chất béo và 0,03% cholesterol.

Surimi có hàm lượng protein cao, lipid thấp, không có cholesterol và glucid, khung hình dễ hấp thụ. Protein của surimi có năng lực trộn lẫn với những loại protit khác, nâng cao chất lượng của những loại thịt khi trộn lẫn với thịt bò, thịt heo, hay thịt gà … Đặc biệt surimi có đặc thù tạo thành khối dẻo, mùi vị và sắc tố trung hòa, nên từ chất nền surimi người ta hoàn toàn có thể chế biến ra những mẫu sản phẩm mô phỏng có giá trị cao như : tôm, thịt, sò, điệp, cua, ghẹ, xúc xích …

Thực phẩm chế biến từ surimi: sản phẩm giả thịt càng cua và giả tôm

Surimi được người dân một số vùng ở Đông Á chế biến từ hơn 900 năm trước đây[cần dẫn nguồn]. Tại Nhật Bản, surimi được sử dụng để chế biến món kamaboko và nhiều món ăn khác. Ngành công nghiệp chế biến surimi bắt đầu phát triển ở Nhật Bản trong những năm 1960.

Cho đến nay, khoảng chừng 2 triệu đến 3 triệu tấn cá trên toàn quốc tế ( chiếm 2 % đến 3 % sản lượng thủy hải sản phân phối ) được sử dụng làm nguyên vật liệu chế biến surimi. Hoa Kỳ và Nhật Bản là những đơn vị sản xuất surimi lớn nhất trong khi xứ sở của những nụ cười thân thiện nhập khẩu khá nhiều. Sản lượng surimi của Trung Quốc cũng khá lớn còn Nước Ta, Chile, Pháp và Malaysia là những nhà phân phối mới nổi. [ 1 ]
Trước tiên, thịt nạc từ cá hoặc động vật hoang dã trên cạn được tách hoặc băm nhỏ, sau đó được rửa nhiều lần để vô hiệu mùi vị không mong ước. Kết quả là bị thớ thịt được băm nhuyễn và được nghiền thành hỗn hợp nhuyễn. Tùy thuộc vào cấu trúc mong ước và mùi vị của loại sản phẩm surimi, hỗn hợp nhuyễn được trộn với phụ gia thực phẩm như bột, lòng trắng trứng, muối, dầu thực vật, sorbitol, đường, protein đậu tương, gia vị và những chất điều vị như transglutaminaza và mì chính ( bột ngọt ) .Nếu surimi được đóng gói và trữ lạnh, cần bổ trợ chất dữ gìn và bảo vệ trong quy trình làm nhuyễn hỗn hợp. [ 2 ] [ 3 ] Trong hầu hết những trường hợp, cần chế biến surimi ngay để dễ tạo hình cho mẫu sản phẩm .

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Source: https://mindovermetal.org
Category: Wiki là gì

Rate this post
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments