SKKN Một số biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường tiểu

SKKN Một số biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường tiểu học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (223.44 KB, 29 trang )

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN KIM ĐỘNG
TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỨC HỢP
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU
HỌC
Người thực hiện: Nguyễn Thị Bích Loan
Chức vụ: Hiệu trưởng
Đơn vị công tác: trường tiểu học Đức Hợp-Kim Động – Hưng Yên
NĂM HỌC: 2012 – 2013
1
*******@*******
MỤC LỤC
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU TRANG
I. Lý do chọn sáng kiên
1. Lý do khách quan 2
2. Lý do chủ quan 4
PHẦN II: NỘI DUNG
6
I. Cơ sở lý luận 6
1. Cơ sở pháp lí 6
2. Cơ sở lý luận 6
II. Thực trạng ứng dụng CNTT trong nhà trường tiểu học hiện nay 7
1.Những trở ngại khi sử dụng giáo án điện tử 7
2. Thực trạng ứng dụng CNTT trong nhà trường hiện nay 8
3. Các hình thức ứng dụng CNTT trong dạy và học 9
III. Một số biện pháp ứng dụng CNTT trong dạy học 11
1. Biện pháp 1 11
2. Biện pháp 2 14
3. Biện pháp 3 17
4. Biện pháp 4 19

5. Biện pháp 5 21
6. Biện pháp 6 24
PHẦN III: KẾT LUẬN
1. Bài học kinh nghiệm 26
2. Điều kiện áp dụng 26
3. Hướng tiếp tục nghiên cứu 26
4. Đề xuất kiến nghị 17
PHẦN I. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn sáng kiến
1. Lý do khách quan
1.1.Tầm quan trọng của công nghệ thông tin:
2
Sự phát triển như vũ bão của ngành khoa học và công nghệ đã đem lại những
thành tựu to lớn trong mọi hoạt động của con người. Trong xu thế hội nhập với thế
giới của Việt Nam, chúng ta luôn cập nhật được những tiến bộ trong cách dạy, cách
học và phương thức quản lý giáo dục tiên tiến trên thế giới. Với xu thế thay đổi mô
hình giáo dục theo hướng hiện đại thì trường học phải thay đổi môi trường giáo dục.
Mọi tài nguyên, nguồn lực trong mỗi trường học cần tập trung vào việc tạp lập một
môi trường học tập cởi mở, sáng tạo cho học sinh. Một môi trường giáo dục hiện đại
sẽ cung cấp tối đa khả năng tự học, tìm kiếm thông tin cho mỗi học sinh; trong khi
giáo viên chỉ hướng dẫn kĩ năng, phương pháp giiair quyết công việc và xử lý thông
tin chính là cốt lõi của phương thức giáo dục này. Để hiện thực hóa những giá trị cốt
lõi trên, công nghệ thông tin (CNTT) là một công cụ hữu hiệu.
Máy vi tính với các phần mềm phong phú đã trở thành một công cụ đa năng ứng
dụng trong mọi lĩnh vực của nghiên cứu, sản xuất và đời sống. Tuy nhiên nếu như
công dụng của máy là tính là có thể đo đếm được thì sự ra đời của mạng máy tính
toàn cầu (Internet) đem lại những hiệu quả vô cùng lớn, không thể đo đếm được.
Chính vì vậy, ngày nay chúng ta thường nghe nói đến thuật ngữ Công nghệ thông tin
&Truyền thông (ICT).
Một máy tính nối mạng không phải chỉ giúp chúng ta đọc báo điện tử, gửi email

mà nó là kênh kết nối chúng ta với tất cả thế giới. Chúng ta có thể tiếp cận toàn bộ tri
thức nhân loại, có thể làm quen giao tiếp với nhau hoặc tham gia những tổ chức ở xa
nửa vòng trái đất. Mạng máy tính toàn cầu thực sự đã tạo ra một thế giới mới trong
đó cũng có gần như các hoạt động của thế giới thực: thương mại điện tử
(ecommerce), giáo dục điện tử (elearning), trò chơi trực tuyến (game online), các
diễn đàn (forum), các mạng xã hội (social network), các công dân điện tử (blogger),

Thông qua các diễn đàn và mạng xã hội, tất cả mọi người có thể trao đổi, chia sẻ
với nhau các tài nguyên số, cũng như các kinh nghiệm trong công việc trong đời
sống và công việc. Ví dụ mọi người có thể chia sẻ các đoạn phim hoặc các bài hát,
có thể chia sẻ các bài viết về những kiến thức khoa học, xã hội, v.v… Ví dụ các bậc
3
phụ huynh trên cả nước có thể chia sẻ kinh nghiệm về cách chăm sóc con cái. Các
giáo viên có thể chia sẻ các tư liệu ảnh, phim, các bài giảng và giáo án với nhau, để
xây dựng một kho tài nguyên khổng lồ phục vụ cho việc giảng dạy của mỗi người.
Học sinh cũng có thể thông qua các mạng xã hội để trao đổi những kiến thức về học
tập và thi cử.
Trong thời đại ngày nay, sự bùng nổ Công nghệ thông tin đã tác động lớn đến
công cuộc phát triển kinh tế xã hội người. Đảng và Nhà nước đã xác định rõ ý nghĩa
và tầm quan trọng của tin học và Công nghệ thông tin, truyền thông cũng như những
yêu cầu đẩy mạnh của ứng dụng Công nghệ thông tin, đào tạo nguồn nhân lực đáp
ứng yêu cầu Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở cửa và hội nhập, hướng tới nền kinh
tế tri thức của nước ta nói riêng – thế giới nói chung.
1.2. Tầm quan trọng của CNTT trong nhà trường
Khi công nghệ thông tin càng phát triển thì việc phát ứng dụng công nghệ thông
tin vào tất cả các lĩnh vực là một điều tất yếu. Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo,
CNTT bước đầu đã được ứng dụng trong công tác quản lý, một số nơi đã đưa tin học
vào giảng dạy, học tập. Tuy nhiên, so với nhu cầu thực tiễn hiện nay, việc ứng dụng
CNTT trong giáo dục ở các trường nước ta còn rất hạn chế. Chúng ta cần phải nhanh
chóng nâng cao chất lượng, nghiệp vụ giảng dạy, nghiệp vụ quản lý, chúng ta không

nên từ chối những gì có sẵn mà lĩnh vực CNTT mang lại, chúng ta nên biết cách tận
dụng nó, biến nó thành công cụ hiệu quả cho công việc của mình, mục đích của
mình.
Hơn nữa, đối với giáo dục và đào tạo, công nghệ hông tin có tác dụng mạnh mẽ,
làm thay đổi nội dung, phương pháp dạy và học. CNTT là phương tiện để tiến tới
“xã hội học tập”. Mặt khác, giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự
phát triển của CNTT thông qua việc cung cấp nguồn nhân lực cho CNTT.
Chính vì xác định được tầm quan trọng đó nên Nhà nước ta đã đưa môn tin
học vào trong nhà trường và ngay từ Tiểu học học sinh được tiếp xúc với môn tin
học để làm quen dần với lĩnh vực CNTT, tạo nền móng cơ sở ban đầu để học những
phần nâng cao trong các cấp tiếp theo.
4
Với tầm quan trọng đó, năm học 2008-2009 Bộ giáo dục và đào tạo đã đưa ra
chủ đề “ Năm ứng dụng CNTT ” trong giáo dục đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học,
ngành học theo hướng dẫn học CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi
mới phương pháp dạy học ở các môn.
Nhưng làm thế nào để ứng dụng CNTT hiệu quả trong các tiết dạy đó là vấn đề mà
bất cứ một giáo viên nào cũng phải băn khoăn khi có ý định đưa CNTT vào giảng
dạy.
2. Lý do chủ quan
Năm học 2008- 2009 là năm Bộ GD&ĐT phát động là năm học ứng dụng công
nghệ thông tin và năm học 2009 – 2010 là năm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông
tin nhưng tôi không cảm thấy bỡ ngỡ, xa lạ bởi tôi nhận ra những công dụng và ích
lợi của việc ứng dụng công nghệ thông tin và bản thân tôi đã có một quá trình trong
việc ứng dụng CNTT trong dạy học.
Phong trào ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lý giáo dục
nhận được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền, của ngành giáo dục, sự ủng
hộ của giáo viên, học sinh và nhân dân đã có sự phát triển mạnh mẽ, rộng lớn nhưng
vẫn còn gặp nhiều khó khăn lúng túng, chưa có chiều sâu và chưa mang lại hiệu quả
đúng với vai trò của nó.

Thời gian gần đây, phong trào thi đua soạn bài giảng điện tử để đổi mới cách
dạy và học đã được nhiều Cán bộ giáo viên hưởng ứng tích cực. Đây được coi là con
đường ngắn nhất để đi đến đích của chất lượng dạy học trong các nhà trường.
Xuất phát từ thực trạng giảng dạy của đội ngũ cán bộ, giáo viên của Ngành.
Mặc dù hầu hết trình độ giáo viên của các trường đều đạt trên chuẩn và trên chuẩn
cao, tuy vậy vẫn còn nhiều giáo viên dạy theo phương pháp truyền thống, nặng về
phương pháp thuyết trình, độc thoại, ngại sử dụng phương pháp mới mà đặc biệt là
việc ứng ứng dụng CNTT trong giảng dạy. Việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy ở
các trường hầu hết thông qua các đợt hội giảng, ứng dụng CNTT chưa thường xuyên,
còn mang tính hình. Để thúc đẩy việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy và quản lý
giáo dục tại các trường tiểu học, góp phần nâng cao chất lượng dạy học, tôi mạnh
5
dạn nghiên cứu vấn đề “Một số biện pháp Ứng dụng công nghệ thông tin
trong dạy học”.
PHẦN II. NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận về “Ứng dụng công nghệ thông tin”
1. Cơ sở pháp lý
6
– Chỉ thị số 58-CT/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng về đẩy mạnh ứng
dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa .
– Chỉ thị 29/CT của Trung Ương Đảng về việc đưa CNTT vào nhà trường. Chỉ thị
29 nêu rõ: “Ứng dụng và phát triển CNTT trong giáo dục và đào tạo sẽ tạo ra một
bước chuyển cơ bản trong quá trình đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp
giảng dạy, học tập và quản lí giáo dục” .” Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục
và đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng CNTT như
một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập ở tất
cả các môn học” .
– Trong nhiệm vụ năm học 2005 – 2006 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo nhấn
mạnh: Khẩn trương triển khai chương trình phát triển nguần nhân lực CNTT từ nay
đến năm 2010 của chính phủ và đề án dạy Tin học ứng dụng CNTT và truyền thông

giai đoạn 2005 – 2010 của ngành.
– Chiến lược phát triển giáo dục 2005 – 2010 chỉ rõ :”Nhanh chóng áp dụng CNTT
vào giáo dục để đổi mới phương pháp giáo dục và quản lí”.
2. Cơ sở lý luận
Công nghệ thông tin, viết tắt CNTT, (tiếng Anh: Information Technology hay là
IT) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin. CNTT là sử dụng máy
tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền, và thu thập
thông tin. Ở Việt Nam khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết
Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993: Công nghệ thông tin là tập hợp các phương
pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại – chủ yếu là kĩ thuật
máy tính và viễn thông – nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn
tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của
con người và xã hội.
Trong hệ thống giáo dục Tây phương, CNTT đã được chính thức tích hợp vào
chương trình học phổ thông. Người ta đã nhanh chóng nhận ra rằng nội dung về
CNTT đã có ích cho tất cả các môn học khác.
7
Với sự ra đời của Internet mà các kết nối băng tần rộng tới tất cả các trường
học, áp dụng của kiến thức, kỹ năng và hiểu biết về CNTT trong các môn học đã trở
thành hiện thực.
Công nghệ thông tin là công cụ đắc lực hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy,
học tập và hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục, góp phần nhằm nâng cao hiệu quả và
chất lượng giáo dục. Phát triển nguồn nhân lực CNTT và ứng dụng CNTT trong giáo
dục là một nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa quyết định sự phát triển CNTT của đất
nước.
II. Thực trạng ứng dụng CNTT trong nhà trường tiểu học hiện nay
1. Những trở ngại khi sử dụng giáo án điện tử
Phần lớn các giáo viên ngại sử dụng giáo án điện tử, nghĩ rằng sẽ tốn thời gian
để chuẩn bị một bài giảng. Việc thực hiện một bài giảng một cách công phu bằng các
dẫn chứng sống động trên các slide trong các giờ học lý thuyết là một điều mà các

giáo viên không muốn nghĩ đến. Để có một bài giảng như thế đòi hỏi phải mất nhiều
thời gian chuẩn bị mà đó chính là điều mà các giáo viên thường hay tránh. Khảo sát
hiệu quả từ phía học sinh cho thấy, nếu sử dụng phương pháp dạy học truyền thống
với phấn trắng bảng đen thì hiệu qua mang lại chỉ có 30%, trong khi hiệu quả của
phương pháp multimedia (nhìn – nghe) lên đến 70%. Việc sử dụng phương pháp mới
đòi hỏi một giáo án mới. Thực ra, muốn “click” chuột để tiết dạy thực sự hiệu quả thì
giáo viên phải vất vả gấp nhiều lần so với cách dạy truyền thống. Ngoài kiến thức
căn bản về vi tính, sử dụng thành thạo phần mềm Power point, Violet,… giáo viên
cần phải có niềm đam mê thật sự với công việc thiết kế đòi hỏi sự sáng tạo, sự nhạy
bén, tính thẩm mỹ để săn tìm tư liệu từ nhiều nguồn.
Hơn nữa trong quá trình thiết kế, để có được một giáo án điện tử tốt, từng cá
nhân giáo viên còn gặp không ít khó khăn trong việc tự đi tìm hình ảnh minh hoạ, âm
thanh sinh động, tư liệu dẫn chứng phù hợp với bài giảng. Đây cũng chính là một
trong những nguyên nhân mà một số giáo viên thường đưa ra để tránh né việc thực
hiện dạy ứng dụng CNTT. Một số tiết dạy có ứng dụng CNTT thì thường trình chiếu
8
nội dung bài dạy suốt cả tiết học làm cho học sinh mỏi mắt, đưa vào tình trạng mệt
mỏi, kém tích cực. Còn một số tiết dạy thì nội dung không nhất thiết phải trình chiếu
cũng thể hiện lên, chưa chắt lọc được phần kiến thức nào thì nên dùng phần mềm để
hỗ trợ.
Một số hoạt động tiếp cận khái niệm, mô tả khái niệm, quy tắc chưa biết khai
thác thế mạnh của các phần mềm ứng dụng như Power point, Sketchpat,. ..
Chính vì những khó khăn trên mà các giáo viên chỉ ứng dụng CNTT khi có nhu
cầu. Tức là chỉ có thao giảng, thì mới sử dụng và việc làm này chỉ mang tính chất đối
phó. Tình trạng này cũng phổ biến trong các trường phổ thông. Mục đích sử dụng
máy tính phục vụ cho công tác giảng dạy chỉ được áp dụng trong các tình huống này.
2. Thực trạng ứng dụng CNTT trong nhà trường tiểu học hiện nay
Từ khá sớm, một số trường học đã bắt đầu đưa công nghệ thông tin vào giảng
dạy. Hầu hết các trường đều chưa có phòng máy tính riêng. Mặc dù một số trường
được trang bị một số máy tính tuy nhiên chỉ nhằm mục đích ứng dụng trong công tác

lưu trữ, quản lý hồ sơ nhân sự hay trợ giúp việc thi cử. Như vậy, có thể thấy chúng ta
đã bỏ phí rất nhiều tiềm năng của máy tính, chưa khai thác hết những ứng dụng to lớn
của công nghệ thông tin, mà một trong những ứng dụng đó là việc sử dụng các phần
mềm hỗ trợ giảng dạy cho các tiết học trên lớp đối với các môn văn hoá khác như:
Toán, tiếng Việt, Tự nhiên xã hội, Đạo đức v.v
Chính vì vậy, nhu cầu sử dụng phần mềm trong giảng dạy hiện nay là rất lớn.
Hầu hết các giáo viên đều nhận thấy đây là vấn đề cấp thiết cần thực hiện ngay. Các
lãnh đạo trường cũng như các cơ quan giáo dục đều khuyến khích và coi khả năng sử
dụng giáo án điện tử, bài giảng điện tử là ưu điểm của giáo viên. Do đó, các lớp tập
huấn Tin học sử dụng Powerpoint, Violet, thường được các giáo viên tham gia rất
đông. Trong các cuộc thi giáo viên dạy giỏi, gần như 100% là các bài giảng là dùng
phần mềm. Đa số các trường học đều đã trang bị máy chiếu để phục vụ việc giảng dạy
bằng máy tính.
Trên thực tế thì các phần mềm giáo dục của Việt Nam cũng đã xuất hiện rất
nhiều, phong phú về nội dung và hình thức như: sách giáo khoa điện tử, các website
9
đào tạo trực tuyến, các phần mềm multimedia dạy học, Trên thị trường có thể dễ
dàng lựa chọn và mua một phần mềm dạy học cho bất cứ môn học nào từ lớp một cho
đến luyện thi đại học. Tuy nhiên, các phần mềm dạy học cho học sinh, dù đã có rất
nhiều cố gắng về mặt hình thức và nội dung song sự giao tiếp giữa máy với người
chắc chắn không thể bằng sự giao tiếp giữa thầy với trò
Hiện nay, các công ty thiết bị giáo dục cũng thường xây dựng các video quay các
tiết giảng mẫu để đưa về các trường. Tuy nhiên định hướng này khó phát huy được
hiệu quả, vì sản phẩm cũng chỉ như một giáo án tham khảo trong khi chi phí để xây
dựng rất lớn (vài chục triệu đồng/tiết dạy) mà hầu như không thể chỉnh sửa về sau
được. Nó thậm chí còn có thể gây phản tác dụng khi tạo ra sự áp đặt cho giáo viên, tạo
ra tư duy lười suy nghĩ vì chỉ cần dạy theo giáo án mẫu, làm giảm đi sự sáng tạo của
giáo viên trong việc giảng dạy
3. Các hình thức ứng dụng CNTT trong dạy học
Hiện nay, trên thế giới người ta phân biệt rõ ràng 2 hình thức ứng dụng CNTT

trong dạy và học, đó là Computer Base Training, gọi tắt là CBT (dạy dựa vào máy
tính), và E-learning (học dựa vào máy tính). Trong đó:
– CBT là hình thức giáo viên sử dụng máy vi tính trên lớp, kèm theo các trang
thiết bị như máy chiếu (hoặc màn hình cỡ lớn) và các thiết bị multimedia để hỗ trợ
truyền tải kiến thức đến học sinh, kết hợp với phát huy những thế mạnh của các phần
mềm máy tính như hình ảnh, âm thanh sinh động, các tư liệu phim, ảnh, sự tương tác
người và máy.
– E-learning là hình thức học sinh sử dụng máy tính để tự học các bài giảng mà
giáo viên đã soạn sẵn, hoặc xem các đoạn phim về các tiết dạy của giáo viên, hoặc có
thể trao đổi trực tuyến với giáo viên thông mạng Internet. Điểm khác cơ bản của hình
thức E-learning là lấy người học làm trung tâm, học viên sẽ tự làm chủ quá trình học
tập của mình, giáo viên chỉ đóng vai trò hỗ trợ việc học tập cho học viên.
Như vậy, có thể thấy CBT và E-learning là hai hình thức ứng dụng CNTT vào
dạy và học khác nhau về mặt bản chất. Một bên là hình thức hỗ trợ cho giáo viên, lấy
người dạy làm trung tâm và cơ bản vẫn dựa trên mô hình lớp học cũ. Còn một bên là
10
hình thức học hoàn toàn mới, lấy người học làm trung tâm, trong khi giáo viên chỉ là
người hỗ trợ. Tuy nhiên, ở Việt Nam nhiều người vẫn bị nhầm lẫn 2 khái niệm này,
trong đó có không ít các chuyên gia giáo dục, nên nhiều khi dẫn đến những sai lầm
trong đường hướng chỉ đạo. Vì vậy, tôi sẽ phân tích kỹ hơn nhưng mặt mạnh mặt yếu
của CBT và E-learning để có thể hiểu rõ hơn chúng ta đã làm gì, cần làm gì và nên
làm gì trong giai đoạn hiện nay.
CBT E-learning
Có thể phát triển, cải tiến từ phương
pháp dạy học truyền thống. Vẫn dựa
trên những hình thức cơ bản của một
lớp học thông thường
Thay đồi hoàn toàn cách dạy và học.
Người học có thể học riêng rẽ, học ở nhà
hoặc ở nơi làm việc. E-learning khai thác

được tối đa sức mạnh của thế giới
Internet: khả năng phổ biến rất cao (có
thể 1 bài giảng hàng triệu người học),
hay có khả năng cập nhật các thông tin
mới ngay lập tức.
Chi phí đầu tư ban đầu thấp. Chỉ cần
trang bị cho lớp học máy tính, máy
chiếu và các thiết bị multimedia.
Chi phí đầu tư ban đầu rất cao. Mỗi lớp
học phải là một phòng máy tính nối mạng
Internet, mỗi học sinh và giáo viên phải
có máy tính riêng và những phần mềm
chuyên dụng.
CBT là phương pháp kết hợp được cả
những thế mạnh của phương pháp dạy
học truyền thống (dựa trên giao tiếp
thầy-trò) và khai thác được những ưu
thế của các công nghệ hiện đại (ví dụ
những bài giảng điện tử).
Chỉ dựa trên thế mạnh của các bài giảng
điện tử, hầu như không có giao tiếp thầy
trò.
Phù hợp hơn với giáo dục phổ thông, vì
là ở giáo dục phổ thông, giáo viên
không chỉ dạy kiến thức mà còn phải
theo dõi hướng dẫn cách tư duy. Vả lại
Phù hợp hơn với giáo dục Đại học, Sau
đại học và những người đã đi làm.
11
học sinh nhỏ tuổi chưa đủ khả năng để

làm chủ được quá trình học tập của
mình.
Đây là phương pháp mà các giáo viên ở
Việt Nam hay dùng phổ biến hiện nay
như dùng Powerpoint, Violet để thiết
kế bài giảng và dạy học dùng máy
chiếu. Những kết quả thu được là rất
đáng kể.
Chưa phải là hình thức phổ biến lắm ở
Việt Nam. Mới chỉ có một số trường ĐH
có hệ thống E-learning riêng như ĐH Sư
phạm HN, ĐH Xây dựng HN, ĐH Cần
Thơ,
III. Một số biện pháp ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học
1. Biện pháp 1: Hướng dẫn tự bồi dưỡng, trang bị những kiến thức Tin học cơ
bản nhất về công nghệ thông tin cho cán bộ, giáo viên trong các nhà trường.
Mặc dù GAĐT chưa được các trường học đón nhận rộng rãi, chưa thực sự phổ
biến nhưng bước đầu đã tạo ra một không khí học tập và làm việc khác hẳn cách học
và cách giảng dạy truyền thống. Phải chăng việc dạy bằng GAĐT sẽ giúp người thầy
đỡ vất vả bởi vì chỉ cần “click” chuột? Thực ra muốn “click” chuột để tiết dạy thực
sự hiệu quả thì người dạy cũng phải chịu bỏ nhiều công sức tìm hiểu và làm quen với
cách soạn và giảng bài mới này. Cụ thể người thầy cần phải:
– Có một ít kiến thức hiểu biết về sử dụng máy tính.
– Biết sử dụng phần mềm trình diễn PowerPoint2003 ( và đối với môn Toán :
Phần mềm Geometer’s Sketchpad, VisuaBasic, Violet, … )
– Biết cách truy cập Internet.
– Có khả năng sử dụng được một số phần mềm chỉnh sửa ảnh, cắt phim, làm các
ảnh động bằng Plash, cắt các file âm thanh,…
– Biết sử dụng máy chiếu Projector ( Máy chiếu đa năng )
Mới nghe thì có vẻ mới mẻ và phức tạp nhưng thực sự muốn ứng dụng công

nghệ thông tin vào giảng dạy có bắt buộc thì phải thực hiện hết các yêu cầu trên hay
không? Câu trả lời là không. Vì nó còn tùy thuộc vào tính chất của mỗi môn học mà
các yêu cầu khác nhau được đặt ra cho mỗi giáo viên. Tuy nhiên, nếu đáp ứng được
12
các yêu cầu trên thì thật là tuyệt vời, lúc đó chất lượng Dạy – học như thế nào thì các
bạn đồng nghiệp tự thảo luận?. Tại sao tôi lại đặt ra các yêu cầu đó? Các bạn thử
tưởng tượng xem nếu một người nào đó không có khái niệm gì về CNTT thì liệu họ
có bật máy tính lên và chọn cho mình một chương trình làm việc hay không? Liệu họ
có biết được tài liệu của mình nằm ở đâu trên máy tính hay không? Có biết cách
Copy (sao chép) tài liệu từ nơi này sang nơi khác hay Delete( xóa) một tài liệu khi
không dùng nữa? Nghĩa là dù ít hay nhiều thì cũng phải sử dụng được máy tính
theo ý riêng mình.
Ở đây, vấn đề cần đặt ra là từ những giáo án được soạn sẵn trên giấy và được trình
bày lại trên bảng đen làm thế nào để giáo án đó trở thành GAĐT được trình bày trên
màn chiếu projector? Điều này đòi hỏi người thầy trước hết phải biết sử dụng phần
mềm PowerPoint 2003 ( phần mềm nằm trong bộ MS Office 2003, hiện nay đã có
PowerPoint trong bộ MS Office 2007) dùng để tạo các trình diển đa dạng trên máy
tính. Ngoài ra có các phần mềm Cabri (Toán) ,GEOSPACW (Toán ), GraphCalc
(Toán), PhotoFrameShow (xử lí hình ảnh), Geometer’s Sketchpad(GSP) … Nếu chỉ
dừng ở mức độ soạn thảo những nội dung cần thiết và cộng thêm các thao tác định
dạng về màu sắc, font chữ tôi nghĩ rằng chắc thầy cô nào cũng có thể làm được. Tuy
nhiên nếu chỉ có làm như thế thì chúng ta chưa thực sự thấy được sức mạnh của
PowerPoint 2003 ( hay PowerPoint 2007) và cũng như một số phần mềm kể trên lúc
đó cũng như chưa phát huy hiệu quả của phương pháp giảng dạy mới này. Ví dụ: với
môn Lịch sử khi dạy về các trận chiến của quân ta và địch, thay vì giáo viên thuật lại
các trận đánh dựa trên bản đồ vẽ sẵn thì bây giờ học sinh nhìn vào trên màn hình lớn
các trận đánh sẽ diễn ra qua các đoạn phim tài liệu mà giáo viên chèn vào…
Với những nội dung bài giảng, hình ảnh minh họa được đưa vào bài giảng, thao
tác cơ bản đòi hỏi người thầy phải nắm được là thiết lập các hiệu ứng để làm sao cho
bài giảng được sinh động, mang lại không khí học tập sôi động và mới mẻ. Vậy các

hiệu ứng đó là gì? Đó là các hoạt cảnh của các đối tượng (văn bản, hình ảnh, ) được
thiết lập có thứ tự, có thể là dòng chữ hay hình ảnh này xuất hiện trước dòng chữ
hay hình ảnh kia, hay có thể là dòng chữ hay hình ảnh này xuất hiện sang trái, dòng
13
chữ hay hình ảnh xuất hiện sang phải….Chẳng hạn trong giờ học Toán giáo viên
(GV) đưa ra bài toán trắc nghiệm (chọn Đúng hoặc Sai: ( Phần mềm VisuaBasic hay
PowerPoint hay Violet sẽ làm được điều đó) sau đó mới kiểm nghiệm kết quả trên
màn hình, như thế mới tiết kiệm được thời gian chép câu hỏi lên bảng, đồng thời
tăng khả năng tư duy của học sinh (HS). Với đặc điểm này GV tiết kiệm được thời
gian viết nội dung lên bảng, nội dung hiển thị đến đâu GV giảng đến đó, làm cho
thời gian giảng bài nhiều hơn, logic hơn, HS hiểu bài sâu hơn.
Đối với môn Lịch sử, Địa lý bài giảng thường đi kèm với nhiều hình ảnh minh
họa. Có thể là hình ảnh mô tả một trận chiến, các căn cứ địa cách mạng, hay hình ảnh
của các vùng kinh tế, khí hậu, diện tích lãnh thổ của các nước trên thế giới,……Nếu
chỉ trình bày xuông sẽ không hấp dẫn học trò bằng giảng dạy giáo án điện tử. Hiện
tại những hình ảnh minh họa, phần mềm cho các nội dung bài dạy nói trên tương đối
nhiều trên Internet mà hiện tại nhà trường đều đã có mạng Internet, tôi nghĩ rằng nếu
chỉ cần bỏ một chút thời gian lên mạng mà có được những phần mềm, hình ảnh,
đoạn phim cần minh họa cho bài giảng thì người thầy nào cũng sẵn lòng cả. Điều đó
đồng nghĩa với việc giáo viên phải biết cách truy cập mạng Inernet để lấy thông tin.
Tuy nhiên không phải hình ảnh nào cũng lấy từ Internet được mà những hình ảnh
cần lấy từ sách giáo khoa (SGK) thì lúc đó ta phải Scaner(quét ảnh), chụp ảnh và
chỉnh sửa ảnh …. Nói tóm lại để có được một GAĐT tạm gọi là hiệu quả thì mỗi GV
cần phải có chút ít về kĩ thuật tin học.
Bài giảng sau khi được thiết kế sẽ được trình chiếu lên màn hình thông qua đầu
projector. Điều đó dù muốn hay không mỗi GV buộc phải biết cách sử dụng nó. Đây
là một trong những yêu cầu bắt buộc đối với GV chỉ cần một vài thao tác lắp máy
chiếu với Case của máy vi tính hoặc Laptop (máy tính xách tay) và điều chỉnh độ
nét, độ lớn trên màn hình, lúc này GV chắc hẳn có một bài giảng chất lượng, HS sẽ
có một tiết học thoải mái và sôi động.

Điều cuối cùng tôi muốn nói đến là nhờ GAĐT mà các giáo viên đã tạo ra một
không khí khác hẳn so với giờ dạy truyền thống. Học sinh buộc phải tập trung nghe
giảng và tư duy nhiều hơn trong các giờ học. Tuy nhiên, để làm được điều đó người
14
dạy phải có một kiến thức nhất định. Chẳng hạn sử dụng được phần mềm trình chiếu
PowrPoint để trình bày bài giảng và cần phải có khái niệm về các phương tiện kĩ
thuật đã được đề cập là các phương tiện hỗ trợ cho việc giảng dạy chứ không thể
thay thế được vai trò chủ đạo của người thầy trong giờ lên lớp.
2. Biện pháp 2: Hướng dẫn một số quy trình và nguyên tắc khi thực hiện bài
giảng ứng dụng Công nghệ thông tin
Hiện tại, ở trường đã và đang áp dụng GAĐT trong các giờ dạy, nhưng vấn đề đặt
ra là việc áp dụng như vậy đã đúng chưa, đã hiệu quả chưa ? Nếu chưa thì áp dụng
thế nào cho đúng quy trình để chuẩn bị cho một GAĐT?
Khi chuyển từ bài giảng truyền thống sang việc giảng bài bằng GAĐT (ứng dụng
CNTT trong dạy học), hầu hết các giáo viên ở trường nói chung thường mang một tư
tưởng của bài giảng cũ để áp đặt vào. Nghĩa là nghĩ và sẽ trình bày những gì mình
nói và viết tất cả các nội dung vào trong Slide. Điều này hoàn toàn sai lầm vì như thế
giáo viên chỉ nói những điều trong sách, không mở rộng các kiến thức ngoài.
Chúng ta cần nhớ một điều: Slide (một trang màn hình của một phần mềm nào đó)
là nơi là chỉ chứa tên bài học, các đề mục và các cụm từ chốt phục vụ cho bài giảng.
Tùy theo từng môn học, chúng ta có thể bổ sung các công thức, hình ảnh minh họa
một cách hợp lý. Đây là bước mà GV cần vận dụng khả năng, kiến thức về tin học
của mình để xây dựng bài giảng. Nếu Slide nào cần hình ảnh minh họa, giáo viên
nên tìm kiếm hình ảnh để chèn vào. Hay Slide kia đang trình bày một kết quả của thí
nghiệm vào để tăng tính thực tế. Công đoạn đưa nội dung vào giáo viên cũng nên lưu
ý về số lượng chữ, màu sắc, kích thước trên một Slide. Giáo viên nên tóm tắt vấn đề
mình muồn trình bày một cách rõ ràng, dễ hiểu. Nhìn vào Slide GV có nhiệm vụ
giải thích kĩ càng và mở rộng nó ra chứ không phải đọc các dòng chữ trên Slide. Nếu
chưa quen với cách giảng dạy này, GV cảm thấy khó khăn trong việc xác định xem
slide tiếp theo sẽ trình bày về vấn đề gì. Giáo viên có thể in ra một bảng để vừa giảng

vừa nhìn vào để xác định vấn đề tiếp theo.
Sử dụng GAĐT cũng không có nghĩa giáo án truyền thống bị lãng quên. Chúng ta
hãy nhìn lại xem trong giáo án truyền thống chúng ta trình bày những gì, phải chăng
15
là tất cả nội dung bài giảng? Vậy thì đối với GAĐT chỉ gồm một số các Slide chỉ
chứa văn bản, hình ảnh,….thì làm thế nào mà GV có thể quan sát hết các vấn đề cần
được giảng? Những nội dung cảm thấy thích thì tập trung nhiều thời gian vào và
giảm thời gian cho các nội dung còn lại? Liệu nếu một GV mới ra trường có thể nhớ
hết nội dung đã chuẩn bị trước buổi dạy hay không? Chỉ cần chúng ta xây dựng kế
hoạch giảng dạy thì vấn đề trên sẽ được giải quyết ngay. Đề cương này sẽ ghi rõ tên
bài dạy, các mục kiến thức cần trình bày, vấn đề nào cần trình bày trước, vấn đề nào
cần trình bày sau ? Vấn đề nào trọng tâm và nhấn mạnh? Chúng ta phải chuẩn bị kĩ
lưỡng như vậy là vì nếu tiết dạy đó GV chưa nói hết các nội dung trong các Slide hay
đã trình bày hết nội dung nhưng thời gian còn thừa. Tóm lại, chúng ta phải kết hợp
đề cương này cùng với việc trình bày trên các slide một các hợp lý thì lúc đó GV ắt
hẳn không còn băn khoăn gì về cách dạy này.
* Những chú ý khi thiết kế bài giảng có ứng dụng CNTT.
Mỗi lớp học có trung bình từ 25- 35 học sinh. Trong khi đó các tiết dạy GAĐT
thường phải tắt bớt đèn, đóng bớt cửa sổ hay kéo rèm hạn chế ánh sáng trời để ảnh
trên màn rõ hơn. Như vậy, những học sinh ngồi ở các dãy cuối lớp hay những học
sinh mắt kém sẽ khó khăn khi quan sát hình ảnh, chữ viết hay công thức trên màn
chiếu. Do đó để học sinh có thể quan sát được bài học chính xác từ màn chiếu, giáo
viên khi soạn giáo án trên Power Point cần chú ý một số nguyên tắc về hình thức
sau:
– Các trang trình diễn phải đơn giản và rõ ràng
– Không sao chép nguyên văn bài dạy, chỉ nên đưa những ý chính vào mỗi trang trình
diễn.
– Về màu sắc của nền hình: Màu sắc không lòe loẹt, đồ họa vui nhộn gây mất tập
trung cho học sinh. Cần tuân thủ nguyên tắc tương phản (contrast), chỉ nên sử dụng
chữ màu sậm (đen, xanh đậm, đỏ đậm…) trên nền trắng hay nền màu sáng. Ngược

lại, khi dùng màu nền sậm thì chỉ nên sử dụng chữ có màu sáng hay trắng.
– Về Font chữ:
16
Dùng các phông chữ, khung, nền hợp lí. (vd: nền màu trắng, màu đỏ cho các đề mục
có vai trò ngang nhau “cỡ chữ, kiểu chữ giống nhau)
Chỉ nên dùng các font chữ đậm, rõ và gọn (Vntime, Arial, Times Roman,…) hạn chế
dùng các font chữ có đuôi (VNI-times…) vì dễ mất nét khi trình chiếu.
– Về cỡ chữ:
Giáo viên thường muốn chứa thật nhiều thông tin trên một slide nên hay có khuynh
hướng dùng cỡ chữ nhỏ. Thực tế, khi dùng máy chiếu Projector chiếu lên màn cho
nhiều người xem thì size chữ thích hợp phải từ cỡ 28 trở lên mới đọc rõ được.
– Về trình bày nội dung trên nền hình:
Giáo viên không nên trình bày nội dung tràn lấp đầy nền hình từ trên xuống từ trái
qua phải, mà cần chừa ra khoảng trống đều hai bên và trên dưới theo tỷ lệ thích hợp
(thường là 1/5), để đảm bảo tính mỹ thuật, sự sắc nét và không mất chi tiết khi chiếu
lên màn. Các dạng đồ họa (hình ảnh, âm thanh,hiệu ứng…) cần phải được lựa chọn
cẩn thận, nếu không chúng sẽ gây phân tán tư tưởng, tư duy lệch lạc trong học sinh.
Những tranh, ảnh hay đoạn phim minh họa dù hay nhưng mờ nhạt, không rõ ràng thì
cũng không nên sử dụng vì không có tác dụng cung cấp thông tin xác định như ta
mong muốn.
– Trình chiếu giáo án:
Khi giáo viên trình chiếu Power Point, để học sinh có thể ghi chép kịp thì nội dung
trong mỗi slide không nên xuất hiện dày đặc cùng lúc. Ta nên phân dòng hay phân
đoạn thích hợp, cho xuất hiện theo hiệu ứng thời gian tương ứng. Trường hợp có nội
dung dài mà nhất thiết phải xuất hiện trọn vẹn cùng lúc, ta trích xuất từng phần thích
hợp để giảng, sau đó đưa về lại trang có nội dung tổng thể, học sinh sẽ dễ hiểu và dễ
ghi nhớ hơn.
* Các tiêu chí đánh giá bài giảng:
– Kế hoạch bài giảng được thể hiện cụ thể, rõ ràng và logic, nêu bật mục tiêu,
nội dung, tiến trình bài giảng.

– Thể hiện được các yêu cầu của phương pháp dạy học tiên tiến, phát huy tính
tích cực của học sinh.
17
– Nội dung bài giảng bám sát kiến thức cơ bản của chương trình theo quy định,
có tính hệ thống và khoa học.
– Sử dụng và tích hợp các công cụ công nghệ thông tin sáng tạo, hợp lý, tối ưu
nhằm phát huy tối đa chất lượng, tính hấp dẫn trong bài giảng; thu hút và tạo môi
trường tương tác tích cực giữa giáo viên và học sinh và giữa học sinh với nhau.
– Hình thức tổ chức, bố trí nội dung bài giảng khoa học, dễ hiểu, thân thiện.
– Hiệu quả, tác động và ảnh hưởng của bài giảng đối với môi trường giáo dục.
3. Biện pháp 3: Hướng dẫn khai thác và xử lý thông tin, tư liệu phục vụ cho bài
giảng có ứng dụng Công nghệ thông tin
Từ nhiều năm nay, ở các nhà trường đã tương đối phổ biến mô hình giảng dạy sử
dụng bài giảng điện tử cùng với các trang thiết bị khác như máy tính, máy chiếu
(projector), Bài giảng điện tử và các trang thiết bị này có thể coi là những công cụ
dạy học đa năng vì nó có thể thay thế cho hầu hết các công cụ dạy học khác từ truyền
thống (tranh vẽ, bản đồ, mô hình, ) đến hiện đại (cassette, ti vi, đầu video ). Hơn
nữa, nếu các bài giảng điện tử được đầu tư xây dựng cẩn thận thì sẽ đem lại hiệu quả
hơn hẳn. Chẳng hạn khi mô phỏng một trận đánh lịch sử, trên bản đồ giấy chỉ có thể
diễn tả được bằng các mũi tên chỉ hướng tấn công, còn trên phần mềm có thể diễn tả
được hình ảnh của các đoàn quân di chuyển, nên tạo được sự hấp dẫn và học sinh có
thể tiếp thu bài giảng dễ dàng hơn.
Khác với các phần mềm giáo dục khác, bài giảng điện tử không phải là phần
mềm dạy học, nó chỉ trợ giúp cho việc giảng dạy của giáo viên (đối tượng sử dụng là
giáo viên, không phải là học sinh). Chính vì vậy, việc truyền đạt kiến thức vẫn dựa
trên giao tiếp thầy – trò, chứ không phải giao tiếp máy – người. Mặt khác, vì giáo viên
là người trực tiếp điều hành việc sử dụng phần mềm nên có thể khai thác tối đa được
những kiến thức cần chuyển tải trong phần mềm, tuỳ thuộc vào trình độ của học sinh
và phương pháp giảng dạy của giáo viên.
Rõ ràng việc sử dụng các bài giảng điện tử sẽ tăng hiệu quả đáng kể đối với các

tiết dạy của giáo viên. Có thể nói đó là sự kết hợp những ưu điểm của phương pháp
dạy học truyền thống và của các công nghệ hiện đại.
18
Tuy nhiên, muốn đầu tư xây dựng các bài giảng điện tử thì chỉ có một cách duy
nhất là phải hướng dẫn, tập huấn các giáo viên để họ có thể tự xây dựng các bài
giảng cho riêng mình. Song, việc tập huấn cũng chỉ dừng lại ở mức độ sử dụng thành
thạo một vài công cụ thiết kế bài giảng như Powerpoint hay Violet, cách tìm kiếm
các tư liệu qua mạng Internet, sử dụng máy quay phim, máy ảnh số, máy quét
Ở mức độ này, giáo viên mới chỉ có thể tạo được bài giảng ở mức cơ bản, chất lượng
trung bình. Chẳng hạn như họ không thể tự vẽ thêm một bức tranh, tự xây dựng một hình
ảnh động hoặc lập trình tạo ra một thí nghiệm mô phỏng, hoặc cũng không thể tự chỉnh
sửa được các tư liệu hình ảnh sau khi quét ảnh hoặc lấy về từ Internet cho đẹp hơn, biên
tập lại các đoạn phim, dịch thuyết minh các tư liệu của nước ngoài thành tiếng Việt, v.v
đặc biệt rất khó có thể tìm kiếm thu thập được những phim ảnh tư liệu quý hiếm. Tất cả
những việc này đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ, họa sĩ, kỹ thuật viên tin học chuyên
nghiệp thì mới đảm nhiệm tốt được.
Hiện nay, nhiều chuyên gia giáo dục đã cảnh báo tình trạng “lạm dụng CNTT”
khi các giáo viên tự xây dựng bài giảng. Do hạn chế về định hướng, công nghệ nên
giáo viên thường hay xây dựng những bài giảng mang nặng tính trình chiếu, ví dụ
như sử dụng Powerpoint “bắn” rất nhiều chữ ra màn hình và khi giảng bài thì gần
như đọc lại nội dung đó. Phương pháp này thậm chí sẽ làm cho học sinh giảm hiệu
quả tiếp thu khi phải đồng thời nghe giảng, vừa đọc chữ, chưa kể là còn bị cuốn hút
vào những hiệu ứng chữ chạy nhảy và âm thanh kèm theo.
Một trong những lý do của tình trạng trên là do các giáo viên chưa hiểu được
rằng: cách sử dụng hiệu quả của ứng dụng phần mềm dạy học là phải khai thác triệt
để các nội dung tư liệu, đặc biệt là các tư liệu multimedia (âm thanh, hình ảnh,
phim ). Một lý do quan trọng nữa là kể cả khi hiểu được như vậy thì cũng khó có
thể thực hiện, vì việc giáo viên đưa một đoạn văn bản vào phần mềm thì dễ, chứ nếu
tự vẽ hình, tự tạo ảnh động hay tìm kiếm tư liệu bên ngoài thì sẽ rất khó khăn.
Chính vì vậy, giáo viên nên sử dụng các công cụ tìm kiếm trên Internet tư liệu

như Google hay Yahoo, hoặc các truy cập các nguồn tư liệu phong phú như
Wikipedia, YouTube, đặc biệt là các nguồn tài nguyên phục vụ cho giáo dục và
19
đào tạo như Thư viện tư liệu giáo dục tại http://tulieu.edu.vn (cung cấp các tư liệu
giúp giáo viên sử dụng vào bài giảng) và Thư viện bài giảng điện tử tại
http://baigiang.edu.vn (cung cấp các bài giảng tham khảo có chất lượng để giáo viên
học tập và chia sẻ kinh nghiệm trong giảng dạy).
4. Biện pháp 4: Hướng dẫn sử dụng các phần mềm, tiện ích tiêu biểu phục vụ cho
công tác giảng dạy học và quản lý giáo dục
Học sử dụng máy vi tính thực chất là học cách sử dụng các phần mềm vi tính.
Có thể phân ra 2 loại là các phần mềm phổ thông (như soạn thảo văn bản, xử lý ảnh,
bảng tính, gõ tiếng Việt, các phần mềm gửi thư điện tử ) và các phần mềm chuyên
dụng, cụ thể đối với giáo viên đó là những phần mềm tạo bài giảng như Powerpoint,
Violet, tạo các hình ảnh mô phỏng để dạy học như Macromedia Flash, Swish, v.v
4.1. Các phần mềm phổ thông
Các phần mềm phổ thông là bắt buộc phải sử dụng thành thạo đối với cả mọi
người, từ cấp quản lý đến giáo viên trong nhà trường. Trong đó một số phần mềm
quan trọng có thể kể ra (chủ yếu nằm trong bộ phần mềm văn phòng Microsoft
Office)
Microsoft Word: Phần mềm soạn thảo văn bản, dùng để soạn công văn, báo
cáo, kế hoạch và tất cả các giấy tờ tài liệu khác. Các giáo viên có thể dùng để soạn
giáo án vừa có thể in ra để sử dụng, lưu trữ trên máy tính hoặc chia sẻ trên mạng
Internet.
Microsoft Excel: Phần mềm tạo bảng tính để xây dựng các kế hoạch, các chi
phí tài chính, hoặc lưu trữ và tính điểm của học sinh. Excel mạnh ở điểm là có thể
đưa vào những phương pháp tính toán, thống kê tùy ý một cách rất dễ dàng.
Microsoft Outlook: Phần mềm gửi nhận thư điện tử. Đã qua rồi thời kỳ mà các
đơn vị hoặc cá nhân trao đổi với nhau với nhau hoàn toàn bằng công văn giấy tờ
hoặc gọi điện thoại (thậm chí điện thoại đường dài) trong những công việc thường
ngày. Ngày nay thư điện tử đã được sử dụng chủ yếu, với những ưu điểm vượt trội

như rẻ tiền, thông tin nhanh chóng và đơn giản. Mỗi cá nhân sẽ có một địa chỉ thư
20
điện tử riêng. Microsoft Outlook là phần mềm hỗ trợ việc quản lý và gửi nhận thư
điện tử rất dễ dàng.
UniKey: Cài đặt phần mềm này, ta mới có thể gõ được tiếng Việt trong các văn
bản, thư tín, Ta có thể chọn kiểu gõ Telex hay VNI, có thể chọn mã chữ là Unicode
hay TCVN, Đặc biệt phần mềm có chức năng chuyển mã chữ rất tiện lợi, giúp có
thể đọc được những văn bản không dùng Unicode mà máy tính không có font chữ
tương ứng. Ví dụ trước đây các văn bản từ miền Bắc vào miền Nam hoặc ngược lại
thì đều không thể đọc được, vì miền Bắc dùng mã TCVN, còn miền Nam thì dùng
mã VNI.
Adobe Photoshop: Là phần mềm xử lý ảnh thông dụng nhất, với rất nhiều tính
năng từ nghiệp dư đến chuyên nghiệp đều có thể sử dụng được. Với những chức
năng cơ bản thì giáo viên và cán bộ quản lý cũng nên sử dụng được, vì nó hiện nay
dù làm bài giảng hay báo cáo, kế hoạch cũng ít nhiều sử dụng các tư liệu ảnh (ảnh
chụp hoặc hình vẽ).
4.2.Các phần mềm phục vụ cho giáo dục
Đối với giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, nên khuyến khích học và sử dụng
các phần mềm sau vì sẽ rất có ích trong việc xây dựng các bài giảng hỗ trợ cho việc
giảng dạy.
Microsoft PowerPoint: Phần mềm cho phép soạn các bài trình chiếu hấp dẫn
để làm bài giảng điện tử. PowerPoint có thể sử dụng được các tư liệu ảnh phim, cho
phép tạo được các hiệu ứng chuyển động khá hấp dẫn và chọn các mẫu giao diện
đẹp. Hiện nay, phần lớn các bài giảng điện của giáo viên ở Việt Nam đều sử dụng
phần mềm Powerpoint.
Phần mềm Violet: Dùng cho giáo viên có thể tự thiết kế và xây dựng được
những bài giảng điện tử sinh động, hấp dẫn, để trợ giúp cho các giờ dạy học trên lớp
(sử dụng với máy chiếu projector hoặc ti vi), hoặc để đưa lên mạng Internet. Tương
tự như Powerpoint nhưng Violet có nhiều điểm mạnh hơn như giao diện tiếng Việt,
dễ dùng, có những năng chuyên dụng cho bài giảng như tạo các loại bài tập, chức

21
năng thiết kế chuyên cho mỗi môn học, và đặc biệt là khả năng gắn kết được với các
phần mềm công cụ khác.
Macromedia Flash: Đây là phần mềm cho phép vẽ hình, tạo ra hình ảnh động,
các hiệu ứng chuyển động và biến đổi, lập trình tạo ra các hoạt động mô phỏng và
tương tác sinh động, hấp dẫn. Để sử dụng tốt Flash đòi trình độ người sử dụng cũng
phải ở mức khá và phải thực hành nhiều. Thông thường không dùng Flash để tạo cả
một bài giảng vì nó sẽ tốn khá nhiều công sức, mà chỉ dùng để tạo ra các tư liệu rồi
kết hợp với Violet hoặc Powerpoint để tạo thành một bài giảng hoàn chỉnh.
5. Biện pháp 5: Hướng dẫn Sử dụng Internet trong việc tìm kiếm các thông
tin trực tuyến
Chúng ta có thể tự xây dựng một kho tài nguyên dạy học với vài nghìn tư liệu,
nhưng như vậy liệu đã đủ chưa. Thực ra, việc đó giờ không còn là vấn đề cần lo lắng
vì Internet đã chính là một thư viện không lồ, là nơi lưu chứa tri thức của toàn nhân
loại với hàng tỷ tư liệu và các bài viết của mọi lĩnh vực, đặc biệt các thông tin trên đó
luôn được cập nhật từng ngày, từng giờ. Như vậy một vấn đề quan trọng và bắt buộc
đối với giáo viên trong việc ứng dụng CNTT trong dạy học là phải biết khai thác
nguồn tài nguyên phong phú trên Internet.
Có 2 phương pháp để khai thác các thông tin phục vụ cho việc giảng dạy như
sau:
5.1. Truy cập các thư viện tài nguyên trực tuyến
Thông thường hiện nay, các thư viện lớn đều được phát triển theo mô hình xã
hội, nội dung sẽ do chính người sử dụng cùng xây dựng lên với số lượng người tham
gia xây dựng lên đến hàng triệu người. Trên thế giới đã xuất hiện các thư viện nổi
tiếng như:
– Wikipedia.org (trang tiếng Việt là vi.wikipedia.org) là hệ thống bách khoa
toàn thư khổng lồ với đầy đủ tri thức nhân loại từ xưa đến nay, do hàng chục triệu
tình nguyện viên trên thế giới đóng góp xây dựng. Có thể tìm ở đây từ các kiến thức
khoa học phổ thông đến các nghiên cứu khoa học chuyên ngành, tìm hiểu về tiểu sử
những người nổi tiếng cho đến những vấn đề thời sự được cập nhật hàng ngày v.v

22
– http://Youtube.com, là trang web chia sẻ video lớn nhất thế giới, ở đây chúng
ta có thể dễ dàng tìm được những tư liệu phim phù hợp với mục đích dạy học. Ở Việt
Nam cũng có trang chia sẻ video riêng ở địa chỉ http://Clip.vn
– Thư viện tư liệu giáo dục http://tulieu.edu.vn là trang web chia sẻ các tư liệu
phim, ảnh, flash phục vụ cho giáo dục và đào tạo của người Việt Nam, hiện là trang
web chia sẻ tư liệu dạy học duy nhất ở Việt Nam với gần 60.000 mục tư liệu.
– Thư viện bài giảng điện tử: địa chỉ trang web là http://baigiang.edu.vn. Đây là
trang web cho phép giáo viên chia sẻ các bài giảng và giáo án của mình, đồng thời
tham khảo các bài giảng và giáo án của rất nhiều giáo viên khác trên cả nước. Hiện
tại trang web đã có trên 200.000 thành viên tham gia, với hàng triệu lượt truy cập
mỗi tháng, số lượng tài nguyên lên đến 50.000 bài giảng và giáo án.
– Thư viện giáo trình điện tử: địa chỉ http://ebook.edu.net.vn. Đây là trang web
tập hợp các giáo trình bậc đại học và chuyên ngành từ các dự án của Bộ GD&ĐT với
các trường Đại học lớn trên cả nước như Đại học Bách Khoa HN, ĐH Sư phạm HN,
Đại học Cần Thơ, Tuy nhiên đây không phải là trang web cộng đồng nên lượng
thông tin không lớn và không được cập nhật thường xuyên.
Thư viện tư liệu giáo dục và Thư viện bài giảng điện tử là các hệ thống mở,
không những giúp giáo viên có thể download các tư liệu dạy học và các bài giảng
mẫu mà còn cho phép giáo viên có thể đưa các tư liệu và bài giảng của mình lên để
chia sẻ với mọi người. Việc sử dụng các hệ thống mở như trên hiện nay đang là xu
hướng tất yếu của ngành CNTT, với những ưu điểm vượt trội là:
• Hoàn toàn miễn phí.
• Có hệ thống dữ liệu khổng lồ vì là do cộng đồng cùng xây dựng.
• Luôn được cập nhật thường xuyên, từng ngày, từng giờ.
• Các tư liệu cũng như bài giảng có chất lượng cao vì được chọn lọc và tổng
hợp từ nhiều nguồn khác nhau. Ngoài ra công ty Bạch Kim cũng luôn có một đội ngũ
kỹ thuật thường xuyên xây dựng các tư liệu mới và bài giảng mới theo yêu cầu của
• giáo viên các nơi để đưa lên Thư viện.
23

• Thư viện cũng là kênh kết nối các giáo viên trên cả nước, giúp mọi người
học hỏi và chia sẻ với nhau nhiều vấn đề trong công việc của mình.
Đây cũng là tư tưởng chủ đạo trong công văn số 9584/BGDĐT-CNTT của Bộ
GD&ĐT về việc Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2007-2008 về CNTT và
phát động năm học 2008-2009 là năm CNTT. Vì vậy, mặc dù mới triển khai 2 hệ
thống này từ tháng 9/2007, nhưng đã nhận được sự hưởng ứng của rất đông giáo viên
trên cả nước (gần 40.000 người). Hiện hai hệ thống thư viện đã có hơn 40.000 mục
tư liệu và gần 8.000 bài giảng mẫu.
Trên thế giới cũng đã có những thư viện trực tuyến do cộng đồng phát triển đã rất
nổi tiếng như thư viện Bách khoa toàn thư Wikipedia.org, thư viện chia sẻ video trực
tuyến YouTube.com, thư viện mã nguồn CodeProject.com v.v Chính vì vậy, mô hình
“mở” chính là xu thế phát triển của tất cả các hệ thống công nghệ thông tin trong hiện
tại và tương lai gần.
5.2. Sử dụng các dịch vụ tìm kiếm như Google, Yahoo, Baamboo.
Có thể truy cập vào các trang web này qua các địa chỉ trang web tương ứng
http://google.com.vn
http://yahoo.com.vn
http://baamboo.com
Công cụ tìm kiếm trực tuyến là một trong những sản phẩm tuyệt vời nhất của
nền khoa học kỹ thuật hiện đại, nó quy tụ được tri thức nhân loại về một nơi. Có thể
nói chúng ta cần bất cứ thông tin gì thì các máy tìm kiếm này có cung cấp cho chúng
ta gần như ngay lập tức, từ hàng chục tỷ trang Web và nguồn tài nguyên khác nhau
trên mạng Internet.
Ví dụ: một người nước ngoài muốn tìm hiểu về phở Hà Nội, họ chỉ cần lên mạng,
vào công cụ tìm kiếm, gõ chữ “phở Hà Nội” là có thể hiện ra hàng trăm trang webside
về chủ đề này. Một người Hà Nội muốn có hình ảnh về chợ Bến Thành thì chẳng cần
phải vào tận thành phố Hồ Chí Minh để chụp ảnh mà chỉ cần vào mạng, sau vài thao tác
đơn giản là có thể tìm được hàng chục bức ảnh.
24
Công cụ tìm kiếm thu nhỏ kho kiến thức khổng lồ của nhân loại thành cuốn cẩm

nang đầu giường đối với mỗi con người hiện đại. Ngay cả đối với giáo viên thì cũng
nên coi như việc ngồi máy tính để soạn bài giảng, giáo án là phải kết nối Internet và
sử dụng công cụ tìm kiếm Internet thì mới có thể tạo ra những sản phẩm có chất
lượng được.
Các công cụ tìm kiếm thực chất đã làm thay đổi một phần của thế giới, con
người không cần phải nhồi nhét những kiến thức khoa học và đời sống để trở thành
những học giả uyên thâm, mà chỉ cần là người có tư duy tốt, nhạy bén, sáng tạo thì
mới phát huy được hiệu quả trong công việc và nâng cao chất lượng cuộc sống. Hiểu
được điều này, chúng ta sẽ thấy rõ hơn những vấn đề cần làm trong giáo dục hiện
nay, nhất là giáo dục phổ thông.
6. Biện pháp 6: Trao đổi chuyên môn, chia sẻ tài nguyên trên các mạng xã
hội
Kết nối mạng Internet, giáo viên không chỉ có thể tìm thấy ngay những kiến
thức, nhưng tài nguyên mình cần mà còn có thể chia sẻ, trao đổi thông tin với nhau.
Hình thức trao đổi, chia sẻ thông tin với nhau đơn giản nhất là phổ biến nhất hiện
nay là thông qua các diễn đàn (forum) trên mạng.
Diễn đàn lớn nhất Việt Nam về giáo dục là trang diễn đàn Mạng giáo dục của
Bộ GD&ĐT, địa chỉ http://edu.net.vn/forums, trong đó trao đổi về mọi vấn đề liên
quan đến giáo dục như giảng dạy, quản lý giáo dục, chống tiêu cực trong giáo dục,
các chính sách mới của Bộ GD&ĐT.
Diễn đàn giáo viên: địa chỉ http://diendan.bachkim.vn, là diễn đàn chuyên cho giáo
viên trao đổi với nhau về những kinh nghiệm dạy học, các kiến thức về ứng dụng CNTT
trong dạy học.
Một hình thức trao đổi, chia sẻ thông tin khác nữa trên Internet là tham gia các
mạng xã hội. Ở các mạng này, mỗi người có thể xây dựng các blog (có thể coi là
trang web riêng) cho mình. Tại các blog, giáo viên có thể chia sẻ các kinh nghiệm
trong dạy học và trong cuộc sống. Bạn bè đồng nghiệp có thể vào xem các blog của
25
5. Biện pháp 5 216. Biện pháp 6 24PH ẦN III : KẾT LUẬN1. Bài học kinh nghiệm tay nghề 262. Điều kiện vận dụng 263. Hướng liên tục nghiên cứu và điều tra 264. Đề xuất đề xuất kiến nghị 17PH ẦN I. PHẦN MỞ ĐẦUI. Lý do chọn sáng kiến1. Lý do khách quan1. 1. Tầm quan trọng của công nghệ thông tin : Sự tăng trưởng như vũ bão của ngành khoa học và công nghệ đã đem lại nhữngthành tựu to lớn trong mọi hoạt động giải trí của con người. Trong xu thế hội nhập với thếgiới của Nước Ta, tất cả chúng ta luôn update được những tân tiến trong cách dạy, cáchhọc và phương pháp quản trị giáo dục tiên tiến và phát triển trên quốc tế. Với xu thế đổi khác môhình giáo dục theo hướng văn minh thì trường học phải đổi khác thiên nhiên và môi trường giáo dục. Mọi tài nguyên, nguồn lực trong mỗi trường học cần tập trung chuyên sâu vào việc tạp lập mộtmôi trường học tập cởi mở, phát minh sáng tạo cho học viên. Một thiên nhiên và môi trường giáo dục hiện đạisẽ phân phối tối đa năng lực tự học, tìm kiếm thông tin cho mỗi học viên ; trong khigiáo viên chỉ hướng dẫn kĩ năng, chiêu thức giiair quyết việc làm và giải quyết và xử lý thôngtin chính là cốt lõi của phương pháp giáo dục này. Để hiện thực hóa những giá trị cốtlõi trên, công nghệ thông tin ( CNTT ) là một công cụ hữu hiệu. Máy vi tính với những ứng dụng đa dạng và phong phú đã trở thành một công cụ đa năng ứngdụng trong mọi nghành của điều tra và nghiên cứu, sản xuất và đời sống. Tuy nhiên nếu nhưcông dụng của máy là tính là hoàn toàn có thể đo đếm được thì sự sinh ra của mạng máy tínhtoàn cầu ( Internet ) đem lại những hiệu suất cao vô cùng lớn, không hề đo đếm được. Chính vì thế, ngày này tất cả chúng ta thường nghe nói đến thuật ngữ Công nghệ thông tin và Truyền thông ( ICT ). Một máy tính nối mạng không phải chỉ giúp tất cả chúng ta đọc báo điện tử, gửi emailmà nó là kênh liên kết tất cả chúng ta với toàn bộ quốc tế. Chúng ta hoàn toàn có thể tiếp cận hàng loạt trithức trái đất, hoàn toàn có thể làm quen tiếp xúc với nhau hoặc tham gia những tổ chức triển khai ở xanửa vòng toàn cầu. Mạng máy tính toàn thế giới thực sự đã tạo ra một quốc tế mới trongđó cũng có gần như những hoạt động giải trí của quốc tế thực : thương mại điện tử ( ecommerce ), giáo dục điện tử ( elearning ), game show trực tuyến ( game trực tuyến ), cácdiễn đàn ( forum ), những mạng xã hội ( social network ), những công dân điện tử ( blogger ), Thông qua những forum và mạng xã hội, tổng thể mọi người hoàn toàn có thể trao đổi, chia sẻvới nhau những tài nguyên số, cũng như những kinh nghiệm tay nghề trong việc làm trong đờisống và việc làm. Ví dụ mọi người hoàn toàn có thể san sẻ những đoạn phim hoặc những bài hát, hoàn toàn có thể san sẻ những bài viết về những kỹ năng và kiến thức khoa học, xã hội, v.v … Ví dụ những bậcphụ huynh trên cả nước hoàn toàn có thể san sẻ kinh nghiệm tay nghề về cách chăm nom con cháu. Cácgiáo viên hoàn toàn có thể san sẻ những tư liệu ảnh, phim, những bài giảng và giáo án với nhau, đểxây dựng một kho tài nguyên khổng lồ Giao hàng cho việc giảng dạy của mỗi người. Học sinh cũng hoàn toàn có thể trải qua những mạng xã hội để trao đổi những kỹ năng và kiến thức về họctập và thi tuyển. Trong thời đại thời nay, sự bùng nổ Công nghệ thông tin đã ảnh hưởng tác động lớn đếncông cuộc tăng trưởng kinh tế tài chính xã hội người. Đảng và Nhà nước đã xác lập rõ ý nghĩavà tầm quan trọng của tin học và Công nghệ thông tin, truyền thông online cũng như nhữngyêu cầu tăng cường của ứng dụng Công nghệ thông tin, đào tạo và giảng dạy nguồn nhân lực đápứng nhu yếu Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Open và hội nhập, hướng tới nền kinhtế tri thức của nước ta nói riêng – quốc tế nói chung. 1.2. Tầm quan trọng của CNTT trong nhà trườngKhi công nghệ thông tin càng tăng trưởng thì việc phát ứng dụng công nghệ thôngtin vào toàn bộ những nghành nghề dịch vụ là một điều tất yếu. Trong nghành giáo dục giảng dạy, CNTT trong bước đầu đã được ứng dụng trong công tác làm việc quản trị, một số ít nơi đã đưa tin họcvào giảng dạy, học tập. Tuy nhiên, so với nhu yếu thực tiễn lúc bấy giờ, việc ứng dụngCNTT trong giáo dục ở những trường nước ta còn rất hạn chế. Chúng ta cần phải nhanhchóng nâng cao chất lượng, nhiệm vụ giảng dạy, nhiệm vụ quản trị, tất cả chúng ta khôngnên phủ nhận những gì có sẵn mà nghành CNTT mang lại, tất cả chúng ta nên biết cách tậndụng nó, biến nó thành công xuất sắc cụ hiệu suất cao cho việc làm của mình, mục tiêu củamình. Hơn nữa, so với giáo dục và đào tạo và giảng dạy, công nghệ hông tin có công dụng can đảm và mạnh mẽ, làm biến hóa nội dung, giải pháp dạy và học. CNTT là phương tiện đi lại để tiến tới “ xã hội học tập ”. Mặt khác, giáo dục và giảng dạy đóng vai trò quan trọng thôi thúc sựphát triển của CNTT trải qua việc cung ứng nguồn nhân lực cho CNTT.Chính vì xác lập được tầm quan trọng đó nên Nhà nước ta đã đưa môn tinhọc vào trong nhà trường và ngay từ Tiểu học học viên được tiếp xúc với môn tinhọc để làm quen dần với nghành CNTT, tạo nền móng cơ sở bắt đầu để học nhữngphần nâng cao trong những cấp tiếp theo. Với tầm quan trọng đó, năm học 2008 – 2009 Bộ giáo dục và đào tạo và giảng dạy đã đưa rachủ đề “ Năm ứng dụng CNTT ” trong giáo dục huấn luyện và đào tạo ở toàn bộ những cấp học, bậc học, ngành học theo hướng dẫn học CNTT như thể một công cụ tương hỗ đắc lực nhất cho đổimới giải pháp dạy học ở những môn. Nhưng làm thế nào để ứng dụng CNTT hiệu suất cao trong những tiết dạy đó là yếu tố màbất cứ một giáo viên nào cũng phải do dự khi có dự tính đưa CNTT vào giảngdạy. 2. Lý do chủ quanNăm học 2008 – 2009 là năm Bộ GD&ĐT phát động là năm học ứng dụng côngnghệ thông tin và năm học 2009 – 2010 là năm tăng cường ứng dụng công nghệ thôngtin nhưng tôi không cảm thấy kinh ngạc, lạ lẫm bởi tôi nhận ra những hiệu quả và íchlợi của việc ứng dụng công nghệ thông tin và bản thân tôi đã có một quy trình trongviệc ứng dụng CNTT trong dạy học. Phong trào ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản trị giáo dụcnhận được sự chăm sóc chỉ huy của những cấp chính quyền sở tại, của ngành giáo dục, sự ủnghộ của giáo viên, học viên và nhân dân đã có sự tăng trưởng can đảm và mạnh mẽ, to lớn nhưngvẫn còn gặp nhiều khó khăn vất vả lúng túng, chưa có chiều sâu và chưa mang lại hiệu quảđúng với vai trò của nó. Thời gian gần đây, trào lưu thi đua soạn bài giảng điện tử để thay đổi cáchdạy và học đã được nhiều Cán bộ giáo viên hưởng ứng tích cực. Đây được coi là conđường ngắn nhất để đi đến đích của chất lượng dạy học trong những nhà trường. Xuất phát từ tình hình giảng dạy của đội ngũ cán bộ, giáo viên của Ngành. Mặc dù hầu hết trình độ giáo viên của những trường đều đạt trên chuẩn và trên chuẩncao, tuy nhiên vẫn còn nhiều giáo viên dạy theo chiêu thức truyền thống lịch sử, nặng vềphương pháp thuyết trình, độc thoại, ngại sử dụng chiêu thức mới mà đặc biệt quan trọng làviệc ứng ứng dụng CNTT trong giảng dạy. Việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy ởcác trường hầu hết trải qua những đợt hội giảng, ứng dụng CNTT chưa tiếp tục, còn mang tính hình. Để thôi thúc việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy và quản lýgiáo dục tại những trường tiểu học, góp thêm phần nâng cao chất lượng dạy học, tôi mạnhdạn nghiên cứu và điều tra yếu tố “ Một số giải pháp Ứng dụng công nghệ thông tintrong dạy học ”. PHẦN II. NỘI DUNGI. Cơ sở lí luận về “ Ứng dụng công nghệ thông tin ” 1. Cơ sở pháp lý – Chỉ thị số 58 – CT / TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng về tăng cường ứngdụng và tăng trưởng CNTT Giao hàng sự nghiệp công nghiệp hóa, văn minh hóa. – Chỉ thị 29 / CT của Trung Ương Đảng về việc đưa CNTT vào nhà trường. Chỉ thị29 nêu rõ : “ Ứng dụng và tăng trưởng CNTT trong giáo dục và giảng dạy sẽ tạo ra mộtbước chuyển cơ bản trong quy trình thay đổi nội dung, chương trình, phương phápgiảng dạy, học tập và quản lí giáo dục ”. ” Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dụcvà đào tạo và giảng dạy ở toàn bộ những cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng CNTT nhưmột công cụ tương hỗ đắc lực nhất cho thay đổi giải pháp giảng dạy và học tập ở tấtcả những môn học ”. – Trong trách nhiệm năm học 2005 – 2006 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo nhấnmạnh : Khẩn trương tiến hành chương trình tăng trưởng nguần nhân lực CNTT từ nayđến năm 2010 của chính phủ nước nhà và đề án dạy Tin học ứng dụng CNTT và truyền thônggiai đoạn 2005 – 2010 của ngành. – Chiến lược tăng trưởng giáo dục 2005 – 2010 chỉ rõ : ” Nhanh chóng vận dụng CNTTvào giáo dục để thay đổi chiêu thức giáo dục và quản lí ”. 2. Cơ sở lý luậnCông nghệ thông tin, viết tắt CNTT, ( tiếng Anh : Information Technology hay làIT ) là ngành ứng dụng công nghệ quản trị và giải quyết và xử lý thông tin. CNTT là sử dụng máytính và ứng dụng máy tính để quy đổi, tàng trữ, bảo vệ, giải quyết và xử lý, truyền, và thu thậpthông tin. Ở Nước Ta khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị quyếtChính phủ 49 / CP kí ngày 04/08/1993 : Công nghệ thông tin là tập hợp những phươngpháp khoa học, những phương tiện đi lại và công cụ kĩ thuật văn minh – hầu hết là kĩ thuậtmáy tính và viễn thông – nhằm mục đích tổ chức triển khai khai thác và sử dụng có hiệu suất cao những nguồntài nguyên thông tin rất đa dạng và phong phú và tiềm năng trong mọi nghành nghề dịch vụ hoạt động giải trí củacon người và xã hội. Trong mạng lưới hệ thống giáo dục Tây phương, CNTT đã được chính thức tích hợp vàochương trình học đại trà phổ thông. Người ta đã nhanh gọn nhận ra rằng nội dung vềCNTT đã có ích cho tổng thể những môn học khác. Với sự sinh ra của Internet mà những liên kết băng tần rộng tới toàn bộ những trườnghọc, vận dụng của kỹ năng và kiến thức, kiến thức và kỹ năng và hiểu biết về CNTT trong những môn học đã trởthành hiện thực. Công nghệ thông tin là công cụ đắc lực tương hỗ thay đổi chiêu thức giảng dạy, học tập và tương hỗ thay đổi quản trị giáo dục, góp thêm phần nhằm mục đích nâng cao hiệu suất cao vàchất lượng giáo dục. Phát triển nguồn nhân lực CNTT và ứng dụng CNTT trong giáodục là một trách nhiệm quan trọng có ý nghĩa quyết định hành động sự tăng trưởng CNTT của đấtnước. II. Thực trạng ứng dụng CNTT trong nhà trường tiểu học hiện nay1. Những trở ngại khi sử dụng giáo án điện tửPhần lớn những giáo viên ngại sử dụng giáo án điện tử, nghĩ rằng sẽ tốn thời gianđể sẵn sàng chuẩn bị một bài giảng. Việc thực thi một bài giảng một cách công phu bằng cácdẫn chứng sôi động trên những slide trong những giờ học kim chỉ nan là một điều mà cácgiáo viên không muốn nghĩ đến. Để có một bài giảng như thế yên cầu phải mất nhiềuthời gian chuẩn bị sẵn sàng mà đó chính là điều mà những giáo viên thường hay tránh. Khảo sáthiệu quả từ phía học viên cho thấy, nếu sử dụng giải pháp dạy học truyền thốngvới phấn trắng bảng đen thì hiệu qua mang lại chỉ có 30 %, trong khi hiệu suất cao củaphương pháp multimedia ( nhìn – nghe ) lên đến 70 %. Việc sử dụng giải pháp mớiđòi hỏi một giáo án mới. Thực ra, muốn “ click ” chuột để tiết dạy thực sự hiệu suất cao thìgiáo viên phải khó khăn vất vả gấp nhiều lần so với cách dạy truyền thống lịch sử. Ngoài kiến thứccăn bản về vi tính, sử dụng thành thạo ứng dụng Power point, Violet, … giáo viêncần phải có niềm đam mê thật sự với việc làm phong cách thiết kế yên cầu sự phát minh sáng tạo, sự nhạybén, tính nghệ thuật và thẩm mỹ để săn tìm tư liệu từ nhiều nguồn. Hơn nữa trong quy trình phong cách thiết kế, để có được một giáo án điện tử tốt, từng cánhân giáo viên còn gặp không ít khó khăn vất vả trong việc tự đi tìm hình ảnh minh hoạ, âmthanh sinh động, tư liệu dẫn chứng tương thích với bài giảng. Đây cũng chính là mộttrong những nguyên do mà 1 số ít giáo viên thường đưa ra để tránh né việc thựchiện dạy ứng dụng CNTT. Một số tiết dạy có ứng dụng CNTT thì thường trình chiếunội dung bài dạy suốt cả tiết học làm cho học viên mỏi mắt, đưa vào thực trạng mệtmỏi, kém tích cực. Còn 1 số ít tiết dạy thì nội dung không nhất thiết phải trình chiếucũng bộc lộ lên, chưa chắt lọc được phần kỹ năng và kiến thức nào thì nên dùng ứng dụng đểhỗ trợ. Một số hoạt động giải trí tiếp cận khái niệm, diễn đạt khái niệm, quy tắc chưa biết khaithác thế mạnh của những ứng dụng ứng dụng như Power point, Sketchpat ,. .. Chính vì những khó khăn vất vả trên mà những giáo viên chỉ ứng dụng CNTT khi có nhucầu. Tức là chỉ có thao giảng, thì mới sử dụng và việc làm này chỉ mang đặc thù đốiphó. Tình trạng này cũng thông dụng trong những trường đại trà phổ thông. Mục đích sử dụngmáy tính ship hàng cho công tác làm việc giảng dạy chỉ được vận dụng trong những trường hợp này. 2. Thực trạng ứng dụng CNTT trong nhà trường tiểu học hiện nayTừ khá sớm, một số ít trường học đã khởi đầu đưa công nghệ thông tin vào giảngdạy. Hầu hết những trường đều chưa có phòng máy tính riêng. Mặc dù một số ít trườngđược trang bị 1 số ít máy tính tuy nhiên chỉ nhằm mục đích mục tiêu ứng dụng trong công táclưu trữ, quản trị hồ sơ nhân sự hay trợ giúp việc thi tuyển. Như vậy, hoàn toàn có thể thấy chúng tađã bỏ phí rất nhiều tiềm năng của máy tính, chưa khai thác hết những ứng dụng to lớncủa công nghệ thông tin, mà một trong những ứng dụng đó là việc sử dụng những phầnmềm tương hỗ giảng dạy cho những tiết học trên lớp so với những môn văn hoá khác như : Toán, tiếng Việt, Tự nhiên xã hội, Đạo đức v.v Chính thế cho nên, nhu yếu sử dụng ứng dụng trong giảng dạy lúc bấy giờ là rất lớn. Hầu hết những giáo viên đều nhận thấy đây là yếu tố cấp thiết cần thực thi ngay. Cáclãnh đạo trường cũng như những cơ quan giáo dục đều khuyến khích và coi năng lực sửdụng giáo án điện tử, bài giảng điện tử là ưu điểm của giáo viên. Do đó, những lớp tậphuấn Tin học sử dụng Powerpoint, Violet, thường được những giáo viên tham gia rấtđông. Trong những cuộc thi giáo viên dạy giỏi, gần như là 100 % là những bài giảng là dùngphần mềm. Đa số những trường học đều đã trang bị máy chiếu để Giao hàng việc giảng dạybằng máy tính. Trên trong thực tiễn thì những ứng dụng giáo dục của Nước Ta cũng đã Open rấtnhiều, nhiều mẫu mã về nội dung và hình thức như : sách giáo khoa điện tử, những websiteđào tạo trực tuyến, những ứng dụng multimedia dạy học, Trên thị trường hoàn toàn có thể dễdàng lựa chọn và mua một ứng dụng dạy học cho bất kỳ môn học nào từ lớp một chođến luyện thi ĐH. Tuy nhiên, những ứng dụng dạy học cho học viên, dù đã có rấtnhiều nỗ lực về mặt hình thức và nội dung tuy nhiên sự tiếp xúc giữa máy với ngườichắc chắn không hề bằng sự tiếp xúc giữa thầy với tròHiện nay, những công ty thiết bị giáo dục cũng thường kiến thiết xây dựng những video quay cáctiết giảng mẫu để đưa về những trường. Tuy nhiên xu thế này khó phát huy đượchiệu quả, vì mẫu sản phẩm cũng chỉ như một giáo án tìm hiểu thêm trong khi ngân sách để xâydựng rất lớn ( vài chục triệu đồng / tiết dạy ) mà phần đông không hề chỉnh sửa về sauđược. Nó thậm chí còn còn hoàn toàn có thể gây phản tác dụng khi tạo ra sự áp đặt cho giáo viên, tạora tư duy lười tâm lý vì chỉ cần dạy theo giáo án mẫu, làm giảm đi sự phát minh sáng tạo củagiáo viên trong việc giảng dạy3. Các hình thức ứng dụng CNTT trong dạy họcHiện nay, trên quốc tế người ta phân biệt rõ ràng 2 hình thức ứng dụng CNTTtrong dạy và học, đó là Computer Base Training, gọi tắt là CBT ( dạy dựa vào máytính ), và E-learning ( học dựa vào máy tính ). Trong đó : – CBT là hình thức giáo viên sử dụng máy vi tính trên lớp, kèm theo những trangthiết bị như máy chiếu ( hoặc màn hình hiển thị cỡ lớn ) và những thiết bị multimedia để hỗ trợtruyền tải kỹ năng và kiến thức đến học viên, tích hợp với phát huy những thế mạnh của những phầnmềm máy tính như hình ảnh, âm thanh sinh động, những tư liệu phim, ảnh, sự tương tácngười và máy. – E-learning là hình thức học viên sử dụng máy tính để tự học những bài giảng màgiáo viên đã soạn sẵn, hoặc xem những đoạn phim về những tiết dạy của giáo viên, hoặc cóthể trao đổi trực tuyến với giáo viên thông mạng Internet. Điểm khác cơ bản của hìnhthức E-learning là lấy người học làm TT, học viên sẽ tự làm chủ quy trình họctập của mình, giáo viên chỉ đóng vai trò tương hỗ việc học tập cho học viên. Như vậy, hoàn toàn có thể thấy CBT và E-learning là hai hình thức ứng dụng CNTT vàodạy và học khác nhau về mặt thực chất. Một bên là hình thức tương hỗ cho giáo viên, lấyngười dạy làm TT và cơ bản vẫn dựa trên quy mô lớp học cũ. Còn một bên là10hình thức học trọn vẹn mới, lấy người học làm TT, trong khi giáo viên chỉ làngười tương hỗ. Tuy nhiên, ở Nước Ta nhiều người vẫn bị nhầm lẫn 2 khái niệm này, trong đó có không ít những chuyên viên giáo dục, nên nhiều khi dẫn đến những sai lầmtrong đường hướng chỉ huy. Vì vậy, tôi sẽ nghiên cứu và phân tích kỹ hơn nhưng mặt mạnh mặt yếucủa CBT và E-learning để hoàn toàn có thể hiểu rõ hơn tất cả chúng ta đã làm gì, cần làm gì và nênlàm gì trong quá trình lúc bấy giờ. CBT E-learningCó thể tăng trưởng, nâng cấp cải tiến từ phươngpháp dạy học truyền thống lịch sử. Vẫn dựatrên những hình thức cơ bản của mộtlớp học thông thườngThay đồi trọn vẹn cách dạy và học. Người học hoàn toàn có thể học riêng rẽ, học ở nhàhoặc ở nơi thao tác. E-learning khai thácđược tối đa sức mạnh của thế giớiInternet : năng lực thông dụng rất cao ( cóthể 1 bài giảng hàng triệu người học ), hay có năng lực update những thông tinmới ngay lập tức. giá thành góp vốn đầu tư bắt đầu thấp. Chỉ cầntrang bị cho lớp học máy tính, máychiếu và những thiết bị multimedia. Ngân sách chi tiêu góp vốn đầu tư bắt đầu rất cao. Mỗi lớphọc phải là một phòng máy tính nối mạngInternet, mỗi học viên và giáo viên phảicó máy tính riêng và những phần mềmchuyên dụng. CBT là chiêu thức phối hợp được cảnhững thế mạnh của giải pháp dạyhọc truyền thống lịch sử ( dựa trên giao tiếpthầy-trò ) và khai thác được những ưuthế của những công nghệ tân tiến ( ví dụnhững bài giảng điện tử ). Chỉ dựa trên thế mạnh của những bài giảngđiện tử, phần đông không có tiếp xúc thầytrò. Phù hợp hơn với giáo dục phổ thông, vìlà ở giáo dục phổ thông, giáo viênkhông chỉ dạy kỹ năng và kiến thức mà còn phảitheo dõi hướng dẫn cách tư duy. Vả lạiPhù hợp hơn với giáo dục Đại học, Sauđại học và những người đã đi làm. 11 học viên nhỏ tuổi chưa đủ năng lực đểlàm chủ được quy trình học tập củamình. Đây là giải pháp mà những giáo viên ởViệt Nam hay dùng phổ cập hiện naynhư dùng Powerpoint, Violet để thiếtkế bài giảng và dạy học dùng máychiếu. Những hiệu quả thu được là rấtđáng kể. Chưa phải là hình thức thông dụng lắm ởViệt Nam. Mới chỉ có một số ít trường ĐHcó mạng lưới hệ thống E-learning riêng như ĐH Sưphạm HN, ĐH Xây dựng HN, ĐH CầnThơ, III. Một số giải pháp ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học1. Biện pháp 1 : Hướng dẫn tự tu dưỡng, trang bị những kỹ năng và kiến thức Tin học cơbản nhất về công nghệ thông tin cho cán bộ, giáo viên trong những nhà trường. Mặc dù GAĐT chưa được những trường học tiếp đón thoáng đãng, chưa thực sự phổbiến nhưng trong bước đầu đã tạo ra một không khí học tập và thao tác khác hẳn cách họcvà cách giảng dạy truyền thống cuội nguồn. Phải chăng việc dạy bằng GAĐT sẽ giúp người thầyđỡ khó khăn vất vả chính bới chỉ cần “ click ” chuột ? Thực ra muốn “ click ” chuột để tiết dạy thựcsự hiệu suất cao thì người dạy cũng phải chịu bỏ nhiều công sức của con người tìm hiểu và khám phá và làm quen vớicách soạn và giảng bài mới này. Cụ thể người thầy cần phải : – Có một chút ít kỹ năng và kiến thức hiểu biết về sử dụng máy tính. – Biết sử dụng ứng dụng trình diễn PowerPoint2003 ( và so với môn Toán : Phần mềm Geometer’s Sketchpad, VisuaBasic, Violet, … ) – Biết cách truy vấn Internet. – Có năng lực sử dụng được một số ít ứng dụng chỉnh sửa ảnh, cắt phim, làm cácảnh động bằng Plash, cắt những file âm thanh, … – Biết sử dụng máy chiếu Projector ( Máy chiếu đa năng ) Mới nghe thì có vẻ mới lạ và phức tạp nhưng thực sự muốn ứng dụng côngnghệ thông tin vào giảng dạy có bắt buộc thì phải triển khai hết những nhu yếu trên haykhông ? Câu vấn đáp là không. Vì nó còn tùy thuộc vào đặc thù của mỗi môn học màcác nhu yếu khác nhau được đặt ra cho mỗi giáo viên. Tuy nhiên, nếu phân phối được12các nhu yếu trên thì thật là tuyệt vời, lúc đó chất lượng Dạy – học như thế nào thì cácbạn đồng nghiệp tự tranh luận ?. Tại sao tôi lại đặt ra những nhu yếu đó ? Các bạn thửtưởng tượng xem nếu một người nào đó không có khái niệm gì về CNTT thì liệu họcó bật máy tính lên và chọn cho mình một chương trình thao tác hay không ? Liệu họcó biết được tài liệu của mình nằm ở đâu trên máy tính hay không ? Có biết cáchCopy ( sao chép ) tài liệu từ nơi này sang nơi khác hay Delete ( xóa ) một tài liệu khikhông dùng nữa ? Nghĩa là dù ít hay nhiều thì cũng phải sử dụng được máy tínhtheo ý riêng mình. Ở đây, yếu tố cần đặt ra là từ những giáo án được soạn sẵn trên giấy và được trìnhbày lại trên bảng đen làm thế nào để giáo án đó trở thành GAĐT được trình diễn trênmàn chiếu projector ? Điều này yên cầu người thầy trước hết phải biết sử dụng phầnmềm PowerPoint 2003 ( ứng dụng nằm trong bộ MS Office 2003, lúc bấy giờ đã cóPowerPoint trong bộ MS Office 2007 ) dùng để tạo những trình diển phong phú trên máytính. Ngoài ra có những ứng dụng Cabri ( Toán ), GEOSPACW ( Toán ), GraphCalc ( Toán ), PhotoFrameShow ( xử lí hình ảnh ), Geometer’s Sketchpad ( GSP ) … Nếu chỉdừng ở mức độ soạn thảo những nội dung thiết yếu và cộng thêm những thao tác địnhdạng về sắc tố, font chữ tôi nghĩ rằng chắc thầy cô nào cũng hoàn toàn có thể làm được. Tuynhiên nếu chỉ có làm như thế thì tất cả chúng ta chưa thực sự thấy được sức mạnh củaPowerPoint 2003 ( hay PowerPoint 2007 ) và cũng như một số ít ứng dụng kể trên lúcđó cũng như chưa phát huy hiệu quả của giải pháp giảng dạy mới này. Ví dụ : vớimôn Lịch sử khi dạy về những trận chiến của quân ta và địch, thay vì giáo viên thuật lạicác trận đánh dựa trên map vẽ sẵn thì giờ đây học viên nhìn vào trên màn hình hiển thị lớncác trận đánh sẽ diễn ra qua những đoạn phim tài liệu mà giáo viên chèn vào … Với những nội dung bài giảng, hình ảnh minh họa được đưa vào bài giảng, thaotác cơ bản yên cầu người thầy phải nắm được là thiết lập những hiệu ứng để làm thế nào chobài giảng được sinh động, mang lại không khí học tập sôi động và mới mẻ và lạ mắt. Vậy cáchiệu ứng đó là gì ? Đó là những hoạt cảnh của những đối tượng người dùng ( văn bản, hình ảnh, ) đượcthiết lập có thứ tự, hoàn toàn có thể là dòng chữ hay hình ảnh này Open trước dòng chữhay hình ảnh kia, hay hoàn toàn có thể là dòng chữ hay hình ảnh này Open sang trái, dòng13chữ hay hình ảnh Open sang phải …. Chẳng hạn trong giờ học Toán giáo viên ( GV ) đưa ra bài toán trắc nghiệm ( chọn Đúng hoặc Sai : ( Phần mềm VisuaBasic hayPowerPoint hay Violet sẽ làm được điều đó ) sau đó mới kiểm nghiệm hiệu quả trênmàn hình, như thế mới tiết kiệm chi phí được thời hạn chép câu hỏi lên bảng, đồng thờităng năng lực tư duy của học viên ( HS ). Với đặc thù này GV tiết kiệm ngân sách và chi phí được thờigian viết nội dung lên bảng, nội dung hiển thị đến đâu GV giảng đến đó, làm chothời gian giảng bài nhiều hơn, logic hơn, HS hiểu bài sâu hơn. Đối với môn Lịch sử, Địa lý bài giảng thường đi kèm với nhiều hình ảnh minhhọa. Có thể là hình ảnh diễn đạt một trận chiến, những căn cứ địa cách mạng, hay hình ảnhcủa những vùng kinh tế tài chính, khí hậu, diện tích quy hoạnh chủ quyền lãnh thổ của những nước trên quốc tế, … … Nếuchỉ trình diễn xuông sẽ không mê hoặc học trò bằng giảng dạy giáo án điện tử. Hiệntại những hình ảnh minh họa, ứng dụng cho những nội dung bài dạy nói trên tương đốinhiều trên Internet mà hiện tại nhà trường đều đã có mạng Internet, tôi nghĩ rằng nếuchỉ cần bỏ một chút ít thời hạn lên mạng mà có được những ứng dụng, hình ảnh, đoạn phim cần minh họa cho bài giảng thì người thầy nào cũng sẵn lòng cả. Điều đóđồng nghĩa với việc giáo viên phải biết cách truy vấn mạng Inernet để lấy thông tin. Tuy nhiên không phải hình ảnh nào cũng lấy từ Internet được mà những hình ảnhcần lấy từ sách giáo khoa ( SGK ) thì lúc đó ta phải Scaner ( quét ảnh ), chụp ảnh vàchỉnh sửa ảnh …. Nói tóm lại để có được một GAĐT tạm gọi là hiệu suất cao thì mỗi GVcần phải có chút ít về kĩ thuật tin học. Bài giảng sau khi được phong cách thiết kế sẽ được trình chiếu lên màn hình hiển thị trải qua đầuprojector. Điều đó dù muốn hay không mỗi GV buộc phải biết cách sử dụng nó. Đâylà một trong những nhu yếu bắt buộc so với GV chỉ cần một vài thao tác lắp máychiếu với Case của máy vi tính hoặc Laptop ( máy tính xách tay ) và kiểm soát và điều chỉnh độnét, độ lớn trên màn hình hiển thị, lúc này GV chắc rằng có một bài giảng chất lượng, HS sẽcó một tiết học tự do và sôi động. Điều ở đầu cuối tôi muốn nói đến là nhờ GAĐT mà những giáo viên đã tạo ra mộtkhông khí khác hẳn so với giờ dạy truyền thống lịch sử. Học sinh buộc phải tập trung chuyên sâu nghegiảng và tư duy nhiều hơn trong những giờ học. Tuy nhiên, để làm được điều đó người14dạy phải có một kỹ năng và kiến thức nhất định. Chẳng hạn sử dụng được ứng dụng trình chiếuPowrPoint để trình diễn bài giảng và cần phải có khái niệm về những phương tiện đi lại kĩthuật đã được đề cập là những phương tiện đi lại tương hỗ cho việc giảng dạy chứ không thểthay thế được vai trò chủ yếu của người thầy trong giờ lên lớp. 2. Biện pháp 2 : Hướng dẫn 1 số ít quá trình và nguyên tắc khi triển khai bàigiảng ứng dụng Công nghệ thông tinHiện tại, ở trường đã và đang vận dụng GAĐT trong những giờ dạy, nhưng yếu tố đặtra là việc vận dụng như vậy đã đúng chưa, đã hiệu suất cao chưa ? Nếu chưa thì áp dụngthế nào cho đúng quá trình để chuẩn bị sẵn sàng cho một GAĐT ? Khi chuyển từ bài giảng truyền thống cuội nguồn sang việc giảng bài bằng GAĐT ( ứng dụngCNTT trong dạy học ), hầu hết những giáo viên ở trường nói chung thường mang một tưtưởng của bài giảng cũ để áp đặt vào. Nghĩa là nghĩ và sẽ trình diễn những gì mìnhnói và viết tổng thể những nội dung vào trong Slide. Điều này trọn vẹn sai lầm đáng tiếc vì như thếgiáo viên chỉ nói những điều trong sách, không lan rộng ra những kỹ năng và kiến thức ngoài. Chúng ta cần nhớ một điều : Slide ( một trang màn hình hiển thị của một ứng dụng nào đó ) là nơi là chỉ chứa tên bài học kinh nghiệm, những đề mục và những cụm từ chốt ship hàng cho bài giảng. Tùy theo từng môn học, tất cả chúng ta hoàn toàn có thể bổ trợ những công thức, hình ảnh minh họamột cách hài hòa và hợp lý. Đây là bước mà GV cần vận dụng năng lực, kỹ năng và kiến thức về tin họccủa mình để thiết kế xây dựng bài giảng. Nếu Slide nào cần hình ảnh minh họa, giáo viênnên tìm kiếm hình ảnh để chèn vào. Hay Slide kia đang trình diễn một hiệu quả của thínghiệm vào để tăng tính trong thực tiễn. Công đoạn đưa nội dung vào giáo viên cũng nên lưuý về số lượng chữ, sắc tố, size trên một Slide. Giáo viên nên tóm tắt vấn đềmình muồn trình diễn một cách rõ ràng, dễ hiểu. Nhìn vào Slide GV có nhiệm vụgiải thích kĩ càng và lan rộng ra nó ra chứ không phải đọc những dòng chữ trên Slide. Nếuchưa quen với cách giảng dạy này, GV cảm thấy khó khăn vất vả trong việc xác lập xemslide tiếp theo sẽ trình diễn về yếu tố gì. Giáo viên hoàn toàn có thể in ra một bảng để vừa giảngvừa nhìn vào để xác lập yếu tố tiếp theo. Sử dụng GAĐT cũng không có nghĩa giáo án truyền thống lịch sử bị quên béng. Chúng tahãy nhìn lại xem trong giáo án truyền thống cuội nguồn tất cả chúng ta trình diễn những gì, phải chăng15là toàn bộ nội dung bài giảng ? Vậy thì so với GAĐT chỉ gồm một số ít những Slide chỉchứa văn bản, hình ảnh, …. thì làm thế nào mà GV hoàn toàn có thể quan sát hết những yếu tố cầnđược giảng ? Những nội dung cảm thấy thích thì tập trung chuyên sâu nhiều thời hạn vào vàgiảm thời hạn cho những nội dung còn lại ? Liệu nếu một GV mới ra trường hoàn toàn có thể nhớhết nội dung đã sẵn sàng chuẩn bị trước buổi dạy hay không ? Chỉ cần tất cả chúng ta kiến thiết xây dựng kếhoạch giảng dạy thì yếu tố trên sẽ được xử lý ngay. Đề cương này sẽ ghi rõ tênbài dạy, những mục kiến thức và kỹ năng cần trình diễn, yếu tố nào cần trình diễn trước, yếu tố nàocần trình diễn sau ? Vấn đề nào trọng tâm và nhấn mạnh vấn đề ? Chúng ta phải sẵn sàng chuẩn bị kĩlưỡng như vậy là vì nếu tiết dạy đó GV chưa nói hết những nội dung trong những Slide hayđã trình diễn hết nội dung nhưng thời hạn còn thừa. Tóm lại, tất cả chúng ta phải kết hợpđề cương này cùng với việc trình diễn trên những slide một những hài hòa và hợp lý thì lúc đó GV ắthẳn không còn do dự gì về cách dạy này. * Những chú ý quan tâm khi phong cách thiết kế bài giảng có ứng dụng CNTT.Mỗi lớp học có trung bình từ 25 – 35 học viên. Trong khi đó những tiết dạy GAĐTthường phải tắt bớt đèn, đóng bớt hành lang cửa số hay kéo rèm hạn chế ánh sáng trời để ảnhtrên màn rõ hơn. Như vậy, những học viên ngồi ở những dãy cuối lớp hay những họcsinh mắt kém sẽ khó khăn vất vả khi quan sát hình ảnh, chữ viết hay công thức trên mànchiếu. Do đó để học viên hoàn toàn có thể quan sát được bài học kinh nghiệm đúng chuẩn từ màn chiếu, giáoviên khi soạn giáo án trên Power Point cần quan tâm 1 số ít nguyên tắc về hình thứcsau : – Các trang trình diễn phải đơn thuần và rõ ràng – Không sao chép nguyên văn bài dạy, chỉ nên đưa những ý chính vào mỗi trang trìnhdiễn. – Về sắc tố của nền hình : Màu sắc không lòe loẹt, đồ họa vui nhộn gây mất tậptrung cho học viên. Cần tuân thủ nguyên tắc tương phản ( contrast ), chỉ nên sử dụngchữ màu sậm ( đen, xanh đậm, đỏ đậm … ) trên nền trắng hay nền màu sáng. Ngượclại, khi dùng màu nền sậm thì chỉ nên sử dụng chữ có màu sáng hay trắng. – Về Font chữ : 16D ùng những phông chữ, khung, nền phải chăng. ( vd : nền màu trắng, màu đỏ cho những đề mụccó vai trò ngang nhau “ cỡ chữ, kiểu chữ giống nhau ) Chỉ nên dùng những font chữ đậm, rõ và gọn ( Vntime, Arial, Times Roman, … ) hạn chếdùng những font chữ có đuôi ( VNI-times … ) vì dễ mất nét khi trình chiếu. – Về cỡ chữ : Giáo viên thường muốn chứa thật nhiều thông tin trên một slide nên hay có khuynhhướng dùng cỡ chữ nhỏ. Thực tế, khi dùng máy chiếu Projector chiếu lên màn chonhiều người xem thì size chữ thích hợp phải từ cỡ 28 trở lên mới đọc rõ được. – Về trình diễn nội dung trên nền hình : Giáo viên không nên trình diễn nội dung tràn lấp đầy nền hình từ trên xuống từ tráiqua phải, mà cần chừa ra khoảng trống đều hai bên và xấp xỉ theo tỷ suất thích hợp ( thường là 1/5 ), để bảo vệ tính mỹ thuật, sự sắc nét và không mất chi tiết cụ thể khi chiếulên màn. Các dạng đồ họa ( hình ảnh, âm thanh, hiệu ứng … ) cần phải được lựa chọncẩn thận, nếu không chúng sẽ gây phân tán tư tưởng, tư duy rơi lệch trong học viên. Những tranh, ảnh hay đoạn phim minh họa dù hay nhưng mờ nhạt, không rõ ràng thìcũng không nên sử dụng vì không có công dụng cung ứng thông tin xác lập như tamong muốn. – Trình chiếu giáo án : Khi giáo viên trình chiếu Power Point, để học viên hoàn toàn có thể ghi chép kịp thì nội dungtrong mỗi slide không nên Open xum xê cùng lúc. Ta nên phân dòng hay phânđoạn thích hợp, cho Open theo hiệu ứng thời hạn tương ứng. Trường hợp có nộidung dài mà nhất thiết phải Open toàn vẹn cùng lúc, ta trích xuất từng phần thíchhợp để giảng, sau đó đưa về lại trang có nội dung tổng thể và toàn diện, học viên sẽ dễ hiểu và dễghi nhớ hơn. * Các tiêu chuẩn nhìn nhận bài giảng : – Kế hoạch bài giảng được bộc lộ đơn cử, rõ ràng và logic, nêu bật tiềm năng, nội dung, tiến trình bài giảng. – Thể hiện được những nhu yếu của giải pháp dạy học tiên tiến và phát triển, phát huy tínhtích cực của học viên. 17 – Nội dung bài giảng bám sát kiến thức và kỹ năng cơ bản của chương trình theo pháp luật, có tính mạng lưới hệ thống và khoa học. – Sử dụng và tích hợp những công cụ công nghệ thông tin phát minh sáng tạo, hài hòa và hợp lý, tối ưunhằm phát huy tối đa chất lượng, tính mê hoặc trong bài giảng ; lôi cuốn và tạo môitrường tương tác tích cực giữa giáo viên và học viên và giữa học viên với nhau. – Hình thức tổ chức triển khai, sắp xếp nội dung bài giảng khoa học, dễ hiểu, thân thiện. – Hiệu quả, tác động ảnh hưởng và tác động ảnh hưởng của bài giảng so với môi trường tự nhiên giáo dục. 3. Biện pháp 3 : Hướng dẫn khai thác và giải quyết và xử lý thông tin, tư liệu ship hàng cho bàigiảng có ứng dụng Công nghệ thông tinTừ nhiều năm nay, ở những nhà trường đã tương đối phổ cập quy mô giảng dạy sửdụng bài giảng điện tử cùng với những trang thiết bị khác như máy tính, máy chiếu ( projector ), Bài giảng điện tử và những trang thiết bị này hoàn toàn có thể coi là những công cụdạy học đa năng vì nó hoàn toàn có thể sửa chữa thay thế cho hầu hết những công cụ dạy học khác từ truyềnthống ( tranh vẽ, map, quy mô, ) đến văn minh ( cassette, ti vi, đầu video ). Hơnnữa, nếu những bài giảng điện tử được góp vốn đầu tư kiến thiết xây dựng cẩn trọng thì sẽ đem lại hiệu quảhơn hẳn. Chẳng hạn khi mô phỏng một trận đánh lịch sử vẻ vang, trên map giấy chỉ có thểdiễn tả được bằng những mũi tên chỉ hướng tiến công, còn trên ứng dụng hoàn toàn có thể diễn tảđược hình ảnh của những đoàn quân vận động và di chuyển, nên tạo được sự mê hoặc và học viên cóthể tiếp thu bài giảng thuận tiện hơn. Khác với những ứng dụng giáo dục khác, bài giảng điện tử không phải là phầnmềm dạy học, nó chỉ trợ giúp cho việc giảng dạy của giáo viên ( đối tượng người tiêu dùng sử dụng làgiáo viên, không phải là học viên ). Chính vì thế, việc truyền đạt kiến thức và kỹ năng vẫn dựatrên tiếp xúc thầy – trò, chứ không phải tiếp xúc máy – người. Mặt khác, vì giáo viênlà người trực tiếp quản lý và điều hành việc sử dụng ứng dụng nên hoàn toàn có thể khai thác tối đa đượcnhững kỹ năng và kiến thức cần chuyển tải trong ứng dụng, tuỳ thuộc vào trình độ của học sinhvà giải pháp giảng dạy của giáo viên. Rõ ràng việc sử dụng những bài giảng điện tử sẽ tăng hiệu suất cao đáng kể so với cáctiết dạy của giáo viên. Có thể nói đó là sự tích hợp những ưu điểm của phương phápdạy học truyền thống cuội nguồn và của những công nghệ tân tiến. 18T uy nhiên, muốn góp vốn đầu tư thiết kế xây dựng những bài giảng điện tử thì chỉ có một cách duynhất là phải hướng dẫn, tập huấn những giáo viên để họ hoàn toàn có thể tự thiết kế xây dựng những bàigiảng cho riêng mình. Song, việc tập huấn cũng chỉ dừng lại ở mức độ sử dụng thànhthạo một vài công cụ phong cách thiết kế bài giảng như Powerpoint hay Violet, cách tìm kiếmcác tư liệu qua mạng Internet, sử dụng máy quay phim, máy ảnh số, máy quétỞ mức độ này, giáo viên mới chỉ hoàn toàn có thể tạo được bài giảng ở mức cơ bản, chất lượngtrung bình. Chẳng hạn như họ không hề tự vẽ thêm một bức tranh, tự thiết kế xây dựng một hìnhảnh động hoặc lập trình tạo ra một thí nghiệm mô phỏng, hoặc cũng không hề tự chỉnhsửa được những tư liệu hình ảnh sau khi quét ảnh hoặc lấy về từ Internet cho đẹp hơn, biêntập lại những đoạn phim, dịch thuyết minh những tư liệu của quốc tế thành tiếng Việt, v.v đặc biệt quan trọng rất khó hoàn toàn có thể tìm kiếm tích lũy được những phim ảnh tư liệu quý và hiếm. Tất cảnhững việc này yên cầu phải có một đội ngũ cán bộ, họa sỹ, kỹ thuật viên tin học chuyênnghiệp thì mới đảm nhiệm tốt được. Hiện nay, nhiều chuyên gia giáo dục đã cảnh báo nhắc nhở thực trạng “ lạm dụng CNTT ” khi những giáo viên tự kiến thiết xây dựng bài giảng. Do hạn chế về khuynh hướng, công nghệ nêngiáo viên thường hay kiến thiết xây dựng những bài giảng mang nặng tính trình chiếu, ví dụnhư sử dụng Powerpoint “ bắn ” rất nhiều chữ ra màn hình hiển thị và khi giảng bài thì gầnnhư đọc lại nội dung đó. Phương pháp này thậm chí còn sẽ làm cho học viên giảm hiệuquả tiếp thu khi phải đồng thời nghe giảng, vừa đọc chữ, chưa kể là còn bị cuốn hútvào những hiệu ứng chữ chạy nhảy và âm thanh kèm theo. Một trong những nguyên do của thực trạng trên là do những giáo viên chưa hiểu đượcrằng : cách sử dụng hiệu suất cao của ứng dụng ứng dụng dạy học là phải khai thác triệtđể những nội dung tư liệu, đặc biệt quan trọng là những tư liệu multimedia ( âm thanh, hình ảnh, phim ). Một nguyên do quan trọng nữa là kể cả khi hiểu được như vậy thì cũng khó cóthể thực thi, vì việc giáo viên đưa một đoạn văn bản vào ứng dụng thì dễ, chứ nếutự vẽ hình, tự tạo ảnh động hay tìm kiếm tư liệu bên ngoài thì sẽ rất khó khăn vất vả. Chính vì thế, giáo viên nên sử dụng những công cụ tìm kiếm trên Internet tư liệunhư Google hay Yahoo, hoặc những truy vấn những nguồn tư liệu đa dạng chủng loại nhưWikipedia, YouTube, đặc biệt quan trọng là những nguồn tài nguyên Giao hàng cho giáo dục và19đào tạo như Thư viện tư liệu giáo dục tại http://tulieu.edu.vn ( cung ứng những tư liệugiúp giáo viên sử dụng vào bài giảng ) và Thư viện bài giảng điện tử tạihttp : / / baigiang.edu.vn ( cung ứng những bài giảng tìm hiểu thêm có chất lượng để giáo viênhọc tập và san sẻ kinh nghiệm tay nghề trong giảng dạy ). 4. Biện pháp 4 : Hướng dẫn sử dụng những ứng dụng, tiện ích tiêu biểu vượt trội ship hàng chocông tác giảng dạy học và quản trị giáo dụcHọc sử dụng máy vi tính thực ra là học cách sử dụng những ứng dụng vi tính. Có thể phân ra 2 loại là những ứng dụng đại trà phổ thông ( như soạn thảo văn bản, giải quyết và xử lý ảnh, bảng tính, gõ tiếng Việt, những ứng dụng gửi thư điện tử ) và những ứng dụng chuyêndụng, đơn cử so với giáo viên đó là những ứng dụng tạo bài giảng như Powerpoint, Violet, tạo những hình ảnh mô phỏng để dạy học như Macromedia Flash, Swish, v.v 4.1. Các ứng dụng phổ thôngCác ứng dụng đại trà phổ thông là bắt buộc phải sử dụng thành thạo so với cả mọingười, từ cấp quản trị đến giáo viên trong nhà trường. Trong đó một số ít phần mềmquan trọng hoàn toàn có thể kể ra ( đa phần nằm trong bộ ứng dụng văn phòng MicrosoftOffice ) Microsoft Word : Phần mềm soạn thảo văn bản, dùng để soạn công văn, báocáo, kế hoạch và tổng thể những sách vở tài liệu khác. Các giáo viên hoàn toàn có thể dùng để soạngiáo án vừa hoàn toàn có thể in ra để sử dụng, tàng trữ trên máy tính hoặc san sẻ trên mạngInternet. Microsoft Excel : Phần mềm tạo bảng tính để thiết kế xây dựng những kế hoạch, những chiphí kinh tế tài chính, hoặc tàng trữ và tính điểm của học viên. Excel mạnh ở điểm là có thểđưa vào những chiêu thức giám sát, thống kê tùy ý một cách rất thuận tiện. Microsoft Outlook : Phần mềm gửi nhận thư điện tử. Đã qua rồi thời kỳ mà cácđơn vị hoặc cá thể trao đổi với nhau với nhau trọn vẹn bằng công văn giấy tờhoặc gọi điện thoại thông minh ( thậm chí còn điện thoại cảm ứng đường dài ) trong những việc làm thườngngày. Ngày nay thư điện tử đã được sử dụng hầu hết, với những ưu điểm vượt trộinhư rẻ tiền, thông tin nhanh gọn và đơn thuần. Mỗi cá thể sẽ có một địa chỉ thư20điện tử riêng. Microsoft Outlook là ứng dụng tương hỗ việc quản trị và gửi nhận thưđiện tử rất thuận tiện. UniKey : Cài đặt ứng dụng này, ta mới hoàn toàn có thể gõ được tiếng Việt trong những vănbản, thư tín, Ta hoàn toàn có thể chọn kiểu gõ Telex hay VNI, hoàn toàn có thể chọn mã chữ là Unicodehay TCVN, Đặc biệt ứng dụng có công dụng chuyển mã chữ rất thuận tiện, giúp cóthể đọc được những văn bản không dùng Unicode mà máy tính không có font chữtương ứng. Ví dụ trước đây những văn bản từ miền Bắc vào miền Nam hoặc ngược lạithì đều không hề đọc được, vì miền Bắc dùng mã TCVN, còn miền Nam thì dùngmã VNI.Adobe Photoshop : Là ứng dụng giải quyết và xử lý ảnh thông dụng nhất, với rất nhiều tínhnăng từ nghiệp dư đến chuyên nghiệp đều hoàn toàn có thể sử dụng được. Với những chứcnăng cơ bản thì giáo viên và cán bộ quản trị cũng nên sử dụng được, vì nó hiện naydù làm bài giảng hay báo cáo giải trình, kế hoạch cũng không ít sử dụng những tư liệu ảnh ( ảnhchụp hoặc hình vẽ ). 4.2. Các ứng dụng ship hàng cho giáo dụcĐối với giáo viên và cán bộ quản trị giáo dục, nên khuyến khích học và sử dụngcác ứng dụng sau vì sẽ rất có ích trong việc thiết kế xây dựng những bài giảng tương hỗ cho việcgiảng dạy. Microsoft PowerPoint : Phần mềm được cho phép soạn những bài trình chiếu hấp dẫnđể làm bài giảng điện tử. PowerPoint hoàn toàn có thể sử dụng được những tư liệu ảnh phim, chophép tạo được những hiệu ứng hoạt động khá mê hoặc và chọn những mẫu giao diệnđẹp. Hiện nay, hầu hết những bài giảng điện của giáo viên ở Nước Ta đều sử dụngphần mềm Powerpoint. Phần mềm Violet : Dùng cho giáo viên hoàn toàn có thể tự phong cách thiết kế và thiết kế xây dựng đượcnhững bài giảng điện tử sinh động, mê hoặc, để trợ giúp cho những giờ dạy học trên lớp ( sử dụng với máy chiếu projector hoặc ti vi ), hoặc để đưa lên mạng Internet. Tươngtự như Powerpoint nhưng Violet có nhiều điểm mạnh hơn như giao diện tiếng Việt, dễ dùng, có những năng chuyên sử dụng cho bài giảng như tạo những loại bài tập, chức21năng phong cách thiết kế chuyên cho mỗi môn học, và đặc biệt quan trọng là năng lực kết nối được với cácphần mềm công cụ khác. Macromedia Flash : Đây là ứng dụng được cho phép vẽ hình, tạo ra hình ảnh động, những hiệu ứng hoạt động và biến hóa, lập trình tạo ra những hoạt động giải trí mô phỏng vàtương tác sinh động, mê hoặc. Để sử dụng tốt Flash đòi trình độ người sử dụng cũngphải ở mức khá và phải thực hành thực tế nhiều. Thông thường không dùng Flash để tạo cảmột bài giảng vì nó sẽ tốn khá nhiều công sức của con người, mà chỉ dùng để tạo ra những tư liệu rồikết hợp với Violet hoặc Powerpoint để tạo thành một bài giảng hoàn hảo. 5. Biện pháp 5 : Hướng dẫn Sử dụng Internet trong việc tìm kiếm những thôngtin trực tuyếnChúng ta hoàn toàn có thể tự kiến thiết xây dựng một kho tài nguyên dạy học với vài nghìn tư liệu, nhưng như vậy liệu đã đủ chưa. Thực ra, việc đó giờ không còn là yếu tố cần lo lắngvì Internet đã chính là một thư viện không lồ, là nơi lưu chứa tri thức của toàn nhânloại với hàng tỷ tư liệu và những bài viết của mọi nghành, đặc biệt quan trọng những thông tin trên đóluôn được update từng ngày, từng giờ. Như vậy một yếu tố quan trọng và bắt buộcđối với giáo viên trong việc ứng dụng CNTT trong dạy học là phải biết khai thácnguồn tài nguyên nhiều mẫu mã trên Internet. Có 2 chiêu thức để khai thác những thông tin Giao hàng cho việc giảng dạy nhưsau : 5.1. Truy cập những thư viện tài nguyên trực tuyếnThông thường lúc bấy giờ, những thư viện lớn đều được tăng trưởng theo quy mô xãhội, nội dung sẽ do chính người sử dụng cùng thiết kế xây dựng lên với số lượng người thamgia kiến thiết xây dựng lên đến hàng triệu người. Trên quốc tế đã Open những thư viện nổitiếng như : – Wikipedia. org ( trang tiếng Việt là vi.wikipedia.org ) là mạng lưới hệ thống bách khoatoàn thư khổng lồ với khá đầy đủ tri thức quả đât từ xưa đến nay, do hàng chục triệutình nguyện viên trên quốc tế góp phần kiến thiết xây dựng. Có thể tìm ở đây từ những kiến thứckhoa học đại trà phổ thông đến những điều tra và nghiên cứu khoa học chuyên ngành, khám phá về tiểu sửnhững người nổi tiếng cho đến những yếu tố thời sự được update hàng ngày v.v 22 – http://Youtube.com, là website san sẻ video lớn nhất quốc tế, ở đây chúngta hoàn toàn có thể thuận tiện tìm được những tư liệu phim tương thích với mục tiêu dạy học. Ở ViệtNam cũng có trang san sẻ video riêng ở địa chỉ http://Clip.vn- Thư viện tư liệu giáo dục http://tulieu.edu.vn là website san sẻ những tư liệuphim, ảnh, flash Giao hàng cho giáo dục và giảng dạy của người Nước Ta, hiện là trangweb san sẻ tư liệu dạy học duy nhất ở Nước Ta với gần 60.000 mục tư liệu. – Thư viện bài giảng điện tử : địa chỉ website là http://baigiang.edu.vn. Đây làtrang web được cho phép giáo viên san sẻ những bài giảng và giáo án của mình, đồng thờitham khảo những bài giảng và giáo án của rất nhiều giáo viên khác trên cả nước. Hiệntại trang web đã có trên 200.000 thành viên tham gia, với hàng triệu lượt truy cậpmỗi tháng, số lượng tài nguyên lên đến 50.000 bài giảng và giáo án. – Thư viện giáo trình điện tử : địa chỉ http://ebook.edu.net.vn. Đây là trang webtập hợp những giáo trình bậc ĐH và chuyên ngành từ những dự án Bất Động Sản của Bộ GD&ĐT vớicác trường Đại học lớn trên cả nước như Đại học Bách Khoa HN, ĐH Sư phạm HN, Đại học Cần Thơ, Tuy nhiên đây không phải là website hội đồng nên lượngthông tin không lớn và không được update tiếp tục. Thư viện tư liệu giáo dục và Thư viện bài giảng điện tử là những mạng lưới hệ thống mở, không những giúp giáo viên hoàn toàn có thể tải về những tư liệu dạy học và những bài giảngmẫu mà còn được cho phép giáo viên hoàn toàn có thể đưa những tư liệu và bài giảng của mình lên đểchia sẻ với mọi người. Việc sử dụng những mạng lưới hệ thống mở như trên lúc bấy giờ đang là xuhướng tất yếu của ngành CNTT, với những ưu điểm tiêu biểu vượt trội là : • Hoàn toàn không lấy phí. • Có mạng lưới hệ thống tài liệu khổng lồ vì là do hội đồng cùng thiết kế xây dựng. • Luôn được update tiếp tục, từng ngày, từng giờ. • Các tư liệu cũng như bài giảng có chất lượng cao vì được tinh lọc và tổnghợp từ nhiều nguồn khác nhau. Ngoài ra công ty Bạch Kim cũng luôn có một đội ngũkỹ thuật tiếp tục kiến thiết xây dựng những tư liệu mới và bài giảng mới theo nhu yếu của • giáo viên những nơi để đưa lên Thư viện. 23 • Thư viện cũng là kênh liên kết những giáo viên trên cả nước, giúp mọi ngườihọc hỏi và san sẻ với nhau nhiều yếu tố trong việc làm của mình. Đây cũng là tư tưởng chủ yếu trong công văn số 9584 / BGDĐT-CNTT của BộGD và ĐT về việc Hướng dẫn triển khai trách nhiệm năm học 2007 – 2008 về CNTT vàphát động năm học 2008 – 2009 là năm CNTT. Vì vậy, mặc dầu mới tiến hành 2 hệthống này từ tháng 9/2007, nhưng đã nhận được sự hưởng ứng của rất đông giáo viêntrên cả nước ( gần 40.000 người ). Hiện hai mạng lưới hệ thống thư viện đã có hơn 40.000 mụctư liệu và gần 8.000 bài giảng mẫu. Trên quốc tế cũng đã có những thư viện trực tuyến do hội đồng tăng trưởng đã rấtnổi tiếng như thư viện Bách khoa toàn thư Wikipedia. org, thư viện san sẻ video trựctuyến YouTube. com, thư viện mã nguồn CodeProject. com v.v Chính thế cho nên, quy mô “ mở ” chính là xu thế tăng trưởng của toàn bộ những mạng lưới hệ thống công nghệ thông tin trong hiệntại và tương lai gần. 5.2. Sử dụng những dịch vụ tìm kiếm như Google, Yahoo, Baamboo. Có thể truy vấn vào những website này qua những địa chỉ website tương ứnghttp : / / google.com.vnhttp : / / yahoo.com.vnhttp : / / baamboo. comCông cụ tìm kiếm trực tuyến là một trong những loại sản phẩm tuyệt vời nhất củanền khoa học kỹ thuật văn minh, nó quy tụ được tri thức trái đất về một nơi. Có thểnói tất cả chúng ta cần bất kỳ thông tin gì thì những máy tìm kiếm này có cung ứng cho chúngta gần như ngay lập tức, từ hàng chục tỷ trang Web và nguồn tài nguyên khác nhautrên mạng Internet. Ví dụ : một người quốc tế muốn khám phá về phở Thành Phố Hà Nội, họ chỉ cần lên mạng, vào công cụ tìm kiếm, gõ chữ “ phở TP. Hà Nội ” là có bộc lộ ra hàng trăm trang websidevề chủ đề này. Một người TP. Hà Nội muốn có hình ảnh về chợ Bến Thành thì chẳng cầnphải vào tận thành phố Hồ Chí Minh để chụp ảnh mà chỉ cần vào mạng, sau vài thao tácđơn giản là hoàn toàn có thể tìm được hàng chục bức ảnh. 24C ông cụ tìm kiếm thu nhỏ kho kiến thức và kỹ năng khổng lồ của quả đât thành cuốn cẩmnang đầu giường so với mỗi con người tân tiến. Ngay cả so với giáo viên thì cũngnên coi như việc ngồi máy tính để soạn bài giảng, giáo án là phải liên kết Internet vàsử dụng công cụ tìm kiếm Internet thì mới hoàn toàn có thể tạo ra những loại sản phẩm có chấtlượng được. Các công cụ tìm kiếm thực ra đã làm biến hóa một phần của quốc tế, conngười không cần phải nhồi nhét những kỹ năng và kiến thức khoa học và đời sống để trở thànhnhững học giả uyên bác, mà chỉ cần là người có tư duy tốt, nhạy bén, phát minh sáng tạo thìmới phát huy được hiệu suất cao trong việc làm và nâng cao chất lượng đời sống. Hiểuđược điều này, tất cả chúng ta sẽ thấy rõ hơn những yếu tố cần làm trong giáo dục hiệnnay, nhất là giáo dục phổ thông. 6. Biện pháp 6 : Trao đổi trình độ, san sẻ tài nguyên trên những mạng xãhộiKết nối mạng Internet, giáo viên không chỉ hoàn toàn có thể tìm thấy ngay những kiếnthức, nhưng tài nguyên mình cần mà còn hoàn toàn có thể san sẻ, trao đổi thông tin với nhau. Hình thức trao đổi, san sẻ thông tin với nhau đơn thuần nhất là thông dụng nhất hiệnnay là trải qua những forum ( forum ) trên mạng. Diễn đàn lớn nhất Nước Ta về giáo dục là trang forum Mạng giáo dục củaBộ GD&ĐT, địa chỉ http://edu.net.vn/forums, trong đó trao đổi về mọi yếu tố liênquan đến giáo dục như giảng dạy, quản trị giáo dục, chống xấu đi trong giáo dục, những chủ trương mới của Bộ GD&ĐT. Diễn đàn giáo viên : địa chỉ http://diendan.bachkim.vn, là forum chuyên cho giáoviên trao đổi với nhau về những kinh nghiệm tay nghề dạy học, những kỹ năng và kiến thức về ứng dụng CNTTtrong dạy học. Một hình thức trao đổi, san sẻ thông tin khác nữa trên Internet là tham gia cácmạng xã hội. Ở những mạng này, mỗi người hoàn toàn có thể thiết kế xây dựng những blog ( hoàn toàn có thể coi làtrang web riêng ) cho mình. Tại những blog, giáo viên hoàn toàn có thể san sẻ những kinh nghiệmtrong dạy học và trong đời sống. Bạn bè đồng nghiệp hoàn toàn có thể vào xem những blog của25

5/5 - (2 votes)
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments